Thứ Năm, 7 tháng 2, 2019

Vị trạng nguyên chỉ làm dân thường mà vẫn giúp đánh đuổi quân Nguyên Mông

Trong những trạng nguyên của đất Việt, rất nhiều người nổi tiếng là thần đồng thông minh từ nhỏ. Tuy nhiên một vị thần đồng đỗ trạng rồi lại không làm quan mà chỉ muốn làm dân thường, nhưng vẫn góp công lớn trị quốc, đánh đuổi giặc ngoại xâm, thì chỉ có trạng nguyên Bạch Liêu.

Đỗ trạng lại không ra làm quan

Bạch Liêu sinh năm 1236 ở làng Thanh Đàm, xã Nguyễn Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu (nay thuộc Diễn Châu, Nghệ An), trong một gia đình nhà nho nghèo. Cha ông làm nghề dạy học bốc thuốc, là người “tích phúc truyền gia”, lấy nhân nghĩa làm gốc.
Bạch Liêu nổi tiếng thần đồng từ nhỏ, 6 tuổi biết đọc, 7 tuổi biết làm thơ, 8 tuổi làm được văn, đến khi 15 tuổi thì danh tiếng thần đồng đã truyền đi khắp nơi. Tương truyền “ông có trí nhớ dai chẳng ai bằng, có cặp mắt lóng lánh, nhãn quan thần lực đọc sách 10 dòng trong nháy mắt”.
Chí hướng đáng khâm phục của vị trạng nguyên chỉ muốn làm dân thường nhưng vẫn giúp Đại Việt đánh đuổi quân Nguyên Mông
Thần đồng người Nghệ An. (Tranh qua truyenxuatichcu.com)
Sách Đại Việt sử ký toàn thư cũng có ghi chép rằng:
Tháng 3, mở khoa thi chọn học trò, ban đỗ kinh trạng nguyên Trần Cố, trại trạng nguyên Bạch Liêu; bảng nhãn (khuyết tên họ); thám hoa lang Hạ Nghi; thái học sinh 47 người, xuất thân theo thứ bậc khác nhau.
Liêu người Nghệ An, tính thông minh nhớ lâu, đọc sách ngàn dòng một mạch.
Bạch Liêu thi đỗ trạng nguyên năm 1266, tuy nhiên khác với các trạng nguyên khác, ông từ chối làm quan, xin được về quê để phụng dưỡng mẹ và giúp đỡ bà con lối xóm.
Chí hướng đáng khâm phục của vị trạng nguyên chỉ muốn làm dân thường nhưng vẫn giúp Đại Việt đánh đuổi quân Nguyên Mông
Trạng nguyên vinh quy bái tổ. (Tranh qua newvietart.com)
Hiện nay trong dân gian vẫn còn câu vè về cảnh trạng nguyên Bạch Liêu vinh quy bái tổ:
Trạng nguyên đệ nhất tam khôi
Nhất danh, nhất giáp, đầu ngôi bảng vàng
Mũ rồng áo tía vua ban
Lọng xanh đi trước, lọng vàng theo sau…

Giúp trị quốc, chuẩn bị đánh giặc

Khi ấy Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải được trao trấn thủ Nghệ An, quê hương của Bạch Liêu. Mến trọng tài đức của vị trạng nguyên, Trần Quang Khải mời ông làm môn khách trong nhà. Hai người thường xướng họa thơ phú, đàm đạo văn chương rất tâm đắc. Dần dần Trần Quang Khải coi Bạch Liêu là người thân tín, để ông tham gia bàn việc quân, việc nước.
Vào thời điểm này, Đại Việt đã một lần đánh bại sự xâm lăng của quân Mông Thát vào năm 1258, nhưng dã tâm của giặc không hề tàn lụi. Quân Mông Thát đang dồn dập tiến đánh nhà Tống, đồng thời gây áp lực ngoại giao lên Đại Việt, và chuẩn bị một cuộc chiến nhằm phục thù. Trần Quang Khải chia sẻ những nỗi lo về cuộc chiến sắp tới này với Bạch Liêu cùng các môn khách khác.
Nhận thấy đất Hoan Diễn thuộc Nghệ An là nơi đất đai trù phú, phù hợp để xây dựng thành một hậu phương vững chắc nếu có cuộc chiến với quân Mông Thát, nên Bạch Liêu đã suy nghĩ viết ra “Biến pháp tam chương”, nêu ba việc mà Đại Việt cần làm là:
  • Về tuyển quân: Kiểm tra dân số, biên hết vào sổ nhân khẩu. Chiêu mộ tráng đinh sung vào quân đội đủ 10 vạn; chia làm nhiều phiên thường xuyên luyện tập võ nghệ, phép đánh trận để khi cần sẽ dùng đến. Mặt khác lập các xưởng rèn đúc vũ khí để trang bị cho binh lính.
  • Về lương thực: Khuyến khích các vương hầu, quan tướng lập điền trang rồi chiêu tập dân nghèo, người không có ruộng và đưa gia nô vào canh tác, khai khẩn để có thêm lương thực, của cải. Làm đường thiên lý từ Thanh Hóa vào đến dãy Hoành Sơn, cứ 20 dặm lại lập kho chứa thóc và binh khí.
  • Về sách lược đối với phía Nam: Củng cố các đồn binh ở biên giới phía Nam Nghệ An (tức đất Hà Tĩnh ngày nay) đồng thời cho nông dân về khai khẩn đất bỏ hoang của người Chiêm Thành. Khai hoang tới đâu, cho dân lập làng tới đó, vừa mở thêm bờ cõi vừa cảnh giác với quân địch.
Trần Quang Khải xem xong “Biến pháp tam chương” của Bạch Liêu thì tấm tắc khen hay và lập tức thi hành ngay kế sách. Ông cùng anh mình là Trần Quốc Khang đưa nhiều gia nô đến lập điền trại, thực hiện đúng theo “Biến pháp tam chương”.
Chí hướng đáng khâm phục của vị trạng nguyên chỉ làm dân thường mà vẫn giúp đánh đuổi quân Nguyên Mông
Trạng nguyên Bạch Liêu trình bày “Biến pháp tam chương” cho Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải. (Tranh: Trí Thức VN)
ADVERTISEMENT
Sau 5 năm (1266 – 1271), vùng đất Hoan Diễn trở nên trù phú và giàu có, lương thực dư dả, lại có sẵn 10 vạn quân dự bị được luyện tập thường xuyên và sẵn sàng xung trận. Nơi đây trở thành hậu phương vững chắc cho một cuộc chiến với quân Mông Thát nếu nó xảy ra. Triều đình khen ngợi Trần Quang Khải vì công lao này.
Chí hướng đáng khâm phục của vị trạng nguyên chỉ muốn làm dân thường nhưng vẫn giúp Đại Việt đánh đuổi quân Nguyên Mông
Các gia nô gấp rút chuẩn bị một hậu phương vững chắc cho Đại Việt. (Tranh qua kienthuc.net.vn)
Năm 1271, trước sức ép về ngoại giao của quân Mông Thát, triều đình gọi Trần Quang Khải về kinh thành giữ chức Thái Uý. Trước khi đi, ông dặn dò kỹ lưỡng nhờ Bạch Liêu giúp đỡ các quan thực hiện đúng theo “Biến pháp tam chương”. Về kinh thành rồi Trần Quang Khải vẫn giữ liên lạc trao đổi với Bạch Liêu.

Hiến kế đánh bại giặc khi giang sơn lâm cảnh “nghìn cân treo sợi tóc”

Năm 1285, quân Nguyên Mông xâm lược Đại Việt lần thứ 2. Trấn Nam Vương Thoát Hoan đem 50 vạn quân từ Bắc đánh xuống, quân Đại Việt phải tạm rút, vừa đánh vừa lùi nhằm bảo tồn lực lượng, tiêu hao quân địch.
Trước đó, Toa Đô đã từng dẫn 20 vạn quân theo đường biển đánh Chiêm Thành, nhưng vừa bị bão lại bị viện binh của Đại Việt và quân Chiêm Thành cùng phối hợp chặn khiến tiến thoái lưỡng nan. Nay quân Nguyên lệnh cho Toa Đô dẫn quân theo đường biển từ phía Nam đánh lên, nhằm tạo thành thế gọng kìm xiết chặt Đại Việt.
Toa Đô đưa đại quân đổ bộ vào Quảng Bình rồi tiến đánh Nghệ An. Trần Nhật Duật đưa quân chặn lại nhưng phải rút lui vì thế giặc rất mạnh.
Đất Hoan Diễn của Nghệ An trong kế hoạch là hậu phương để đánh giặc, nay tình thế bất ngờ trở thành tiền phương khi đại quân Toa Đô từ hướng Nam kéo đến. Trong hoàn cảnh cấp bách đó, Trần Kiện trấn thủ Nghệ An lại đưa toàn bộ gia quyến ra đầu hàng giặc, thậm chí còn chỉ điểm cho quân Nguyên khiến Đại Việt thiệt hại rất nhiều.
Trong lúc giang sơn lâm vào cảnh nghìn cân treo sợi tóc, vua Trần nhận được bản tấu của Bạch Liêu về tình hình vùng đất Hoan Diễn, phân tích rõ ràng điểm mạnh yếu, từ đó hiến kế đánh quân Nguyên. Đồng thời Bạch Liêu cũng nói rằng Hoan Diễn đã sẵn sàng mười vạn quân dưới cờ.
Chí hướng đáng khâm phục của vị trạng nguyên chỉ muốn làm dân thường nhưng vẫn giúp Đại Việt đánh đuổi quân Nguyên Mông
Bạch Liêu viết tấu về tình hình tại Hoan Diễn. (Tranh qua kienthuc.net.vn)
Vua Trần Nhân Tông đọc rất vừa ý, phê vào bản tấu của Bạch Liêu như sau:
Cối Kê cựu sự quân tu ký
Hoan Diễn do tồn thập vạn binh.
Ý vua Trần muốn nhắc lại về chuyện Việt Vương Câu Tiễn bị Ngô Vương Phù Sai đánh bại, phải đem 5.000 quân rút về Cối Kê, củng cố lực lượng, rồi sau này đợi thời cơ giành chiến thắng, giết Phù Sai. Vua Trần ví 10 vạn quân ở Hoan Diễn lúc bấy giờ cũng giống như 5.000 quân ở Cối Kê khi xưa.
Vua Trần cử Trần Quang Khải đến Nghệ An để cầm cự với giặc. Khi ông tới đã mời Bạch Liêu vào doanh trại để bàn việc quân. Bạch Liêu đã phân tích tình hình, chỉ ra kế sách cho Trần Quang Khải, nhờ đó quân Đại Việt có nhiều trận đánh trả quyết liệt, đặc biệt là trận thắng lớn ở bãi Sa Nam, huyện Nam Đường, khiến quân Toa Đô bại trận và sa lầy.
Theo sử sách thì đội quân Toa Đô tiến đánh trong tình trạng thiếu lương, trong khi đó Nghệ An vốn là hậu phương rất dồi dào lương thực. Điều đó cho thấy quân Đại Việt đã chuẩn bị bảo vệ tốt quân lương, không để rơi vào tay quân Nguyên.
Những kế sách của Bạch Liêu đã góp phần quan trọng vào chiến thắng chung của Đại Việt.
Chí hướng đáng khâm phục của vị trạng nguyên chỉ muốn làm dân thường nhưng vẫn giúp Đại Việt đánh đuổi quân Nguyên Mông
Sau khi Đại Việt chiến thắng, vua luận công ban thưởng. (Tranh qua baophapluat.vn)
Sau khi Đại Việt chiến thắng, trong số những người được ban thưởng có Bạch Liêu, nhưng ông đã từ chối mọi tước vị cũng như vật phẩm. Bạch Liêu về quê dạy học và bốc thuốc chữa bệnh cho người dân. Sau đó, ông di cư ra Bắc sống ở làng Nghĩa Lư, huyện Thanh Tâm, xứ Hải Đông (nay là Hải Dương).
*****
Đỗ trạng lại không ra làm quan mà chỉ muốn làm dân thường, nhưng khi đất nước nguy nan thì Bạch Liêu vẫn góp công lớn trong việc trị quốc, đánh đuổi giặc ngoại xâm. Chí hướng của trạng nguyên Bạch Liêu một lần nữa cho thấy rằng, đạo học cao nhất của người xưa không nằm ở chỗ công danh lợi lộc, mà nằm ở việc nỗ lực trở thành bậc Thánh hiền, hoặc ít nhất cũng làm người quân tử, chứ không phải là kẻ tiểu nhân phàm tục.

Tưởng nhớ

Trạng nguyên Bạch Liêu mất ngày 24 tháng giêng năm ất Mão (1315), thọ 79 tuổi. Sau khi ông mất, ở Nghĩa Lư và quê ông đều xây đền thờ phụng. Do có công với đất nước, ông đã được các triều Lê, Nguyễn sắc phong Thần mộ. Triều đình phong ông làm Phúc Thần, hiệu là “Dương cảnh Thành Hoàng Đại Vương”.
Trạng Nguyên
Nhà thờ Trạng Nguyên Bạch Liêu tại xóm Thanh Đà – Mã Thành – Yên Thành – Nghệ An (Ảnh qua Di tích Lịch sử Văn hóa Quốc gia)
Hiện nay tại đền thờ trạng nguyên Bạch Liêu ở làng Nguyễn Xá, huyện Yên Thành, Nghệ An vẫn còn lưu giữ đôi câu đối:
Sinh tiền bất dĩ Đông A đế,
Một vị năng vi Nguyễn Xá thần.
Nghĩa là:
Sống không nhận quan tước của vua Trần,
Chết làm phúc thần của làng Nguyễn Xá.
Trạng Nguyên
Mộ trạng nguyên Bạch Liêu. (Ảnh qua kienthuc.net.vn)
Trần Hưng

Thứ Ba, 5 tháng 2, 2019

LÀM PHƯỚC KHÔNG DỄ - TT. THÍCH CHÂN QUANG

LÀM PHƯỚC KHÔNG DỄ - TT. THÍCH CHÂN QUANG - https://youtu.be/y6jtTZywzvk
(Theo Đệ tử Thiền tôn Phật Quang)
Khi một người hiểu đạo nhiều rồi thì cái thôi thúc đầu tiên trong lòng là làm phước. Hiểu đạo sâu chừng nào thì sự thôi thúc lớn chừng ấy, càng ước mơ làm được nhiều việc phúc giúp đời, giúp người. Một người đệ tử Phật chân chính sẽ không bao giờ là người lười biếng, không muốn ở không mà bên trong luôn thúc đẩy cứ phải làm phước.
Làm phước, trước hết để chuyển nghiệp của chính mình, để cuộc đời ta đi lên từ từ. Cứ mỗi kiếp sau sẽ hạnh phúc hơn kiếp này; trí tuệ hơn; dung mạo uy nghi hơn; uy đức lớn lao hơn. Từ phàm lên Thánh là một chặng đường rất dài, ta chẳng những phải đủ phước để ngay khi còn là phàm phu, ta là phàm phu phi thường. Rồi có lúc sẽ vượt khỏi thân phận phàm phu để trở thành vị Thánh đắc đạo cao siêu. Tất cả đều bắt đầu từ việc làm phước. Nếu không làm phước, ta tiếp tục trôi lăn, ta nói bậy, nghĩ bậy.
Đừng nghĩ cái tâm ta là của ta, đừng tưởng những ý nghĩ trong đầu ta là của riêng mình, tự mình tạo ra không ai biết. Ý nghĩ trong đầu mình chính là do nhân quả mà thành. Có những khi ta nghĩ những chuyện tốt đẹp, có những lúc ta nghĩ chuyện xấu xa làm ta cũng phải giật mình, tại sao ta lại có suy nghĩ đến kỳ quặc như vậy, vì nhân quả. Đó là do ta đã phạm lỗi gì đó của hôm nay, hôm qua, hôm kia, tuần trước, hay tháng trước… ta lỡ xúc phạm một bậc đáng kính nào đó mà tâm ta thay đổi, tự nhiên ý nghĩ bất thiện khởi lên một cách tự nhiên, như thành bản chất của mình, như mình đã từng là người xấu xa vô đạo đức.
Một người luôn nghĩ điều tốt, điều thiện, từ bi, nghĩ về đạo đức là do phước. Trong từng ngày của đời sống, ta đều giữ gìn tâm hạnh kỹ lưỡng, lễ kính Phật, khiêm nhu, không dám xúc phạm đến ai. Tự nhân quả nó tạo nguồn tư tưởng tốt trong tâm, lời nói tốt, hành vi tốt, rồi phước cứ tăng dần mà đi lên.
Có người thời gian trước là người tốt, thời gian sau gặp lại, người đó thay đổi theo chiều hướng xấu, ta biết người này phúc đã hết. Người phúc còn, tâm hồn ổn định, đi lên dần dần. Nếu không làm phước, biểu hiện xấu đầu tiên là tâm ta xấu, nhân cách xấu, đạo đức xuống, giá trị ta tụt luôn. Một khi tâm xấu sẽ làm nhiều chuyện sai lầm. Nghiệp chồng lên nghiệp, cuộc đời ta chắc chắn bị đọa lạc. Vì vậy, ngưng làm phước một giờ là nguy hiểm tới luân hồi của ta liền. Đó là lý do mà người Phật tử càng hiểu đạo, càng hiểu nhân quả chừng nào thì càng bị thôi thúc trong lòng là phải làm phước.
Tuy nhiên, làm phước lại không dễ. Có người hiểu đạo, rất muốn làm phước mà không có điều kiện để làm, không phải ai muốn làm phước cũng được. Ta phải làm từng bước để đến khi phước của ta lớn mênh mông, ta có thể giúp mọi người trên cuộc đời này, làm thành đại phước. Ta làm từng chút như từng giọt nước, rồi ta có một bát nước, sau có một lu nước, rồi sẽ có một ao nước, sẽ có một dòng sông, ta sẽ có một biển cả. Ta lúc nào cũng khát vọng làm được nhiều việc phước cho đời, nhưng khôn ngoan làm từng chút một “Có phước nhỏ rồi mới làm được phước lớn hơn”.
Một người phải có nhiều yếu tố mới làm phước được, chẳng hạn phải có tiền bạc, trí tuệ, sức khỏe, nghề nghiệp, tấm lòng, v.v… Đó là bao nhiêu điều ta cần học tập, trau dồi, tu dưỡng để thành một người có đủ khả năng xoay sở làm phước trong mọi tình huống, tức gặp ai trong trường hợp nào mình cũng có thể giúp được hết. Nếu ta chủ quan, hẹp hòi, cố chấp, thiển cận, biết ít thứ thì ta không thể làm phước được nhiều. Ví dụ muốn bố thí thì phải có tiền, tiền cũng do phước mà ra. Ta có phước thì có lộc, dễ xoay sở làm ra tiền.
Người biết tu, đầu tiên là phải biết bố thí từng chút một. Nếu ai không bố thí từng chút một thì nghiệp của mình chưa vỡ ra được. Căn bản nhất của làm phước vẫn là bố thí. Có bố thí rồi, những phước khác từ từ mở ra. Trong Lục Độ Ba La Mật, Đức Phật dạy hạnh bố thí là đầu tiên. Phật dạy không ai nghèo đến mức không có một hạt cơm bố thí cho con kiến. Ta vẫn có thể bố thí nhiều hơn. Khi ta phát tâm làm phước, bố thí đều đặn trong 3 năm, nghiệp của ta bắt đầu chuyển, xuất hiện quả báo là muốn gì được nấy (Hể cái muốn vừa chừng thì cái đó đến với ta một cách tự nhiên). Nếu cứ làm phước trong sự ổn định mười năm, hai mươi năm, sống một đời đạo hạnh thì uy lực xuất hiện, ai thấy cũng nể mặc dù họ không biết mình là ai. Khi mở một tiếng nói cầu xin cho ai thì Chư thiên đáp ứng liền, còn phần mình thì không cầu cho mình mà cầu cho người khác, đời sống của họ trở nên vị tha trong từng ý nghĩ. Người đó đi đâu đều được quỷ thần ủng hộ, Chư thiên dòm ngó.
Một bậc chứng Tu Đà Hoàn tức một người bước vào dòng Thánh, họ chỉ muốn ban tặng thôi chứ không muốn cất giữ cho mình, ngược lại, đối với người phàm thì lấy việc cất giữ - thọ nhận làm niềm vui. Vì vậy từ một người phàm phu mà chuyển thành một bậc Thánh, ta phải chuyển từ niềm vui sống thụ hưởng lật ngược lại trở thành ban cho hiến tặng. Cái lật ngược lại rất khó và ta phải làm từng chút một cho thành thói quen, vui vì giúp đời, giúp người, không sống cho mình nữa.
Muốn công quả phải có sức khỏe và có nghề. Vì vậy, sống trên đời chúng ta phải có một cái nghề, không cần bằng cấp nhưng cũng phải có chuyên môn một chút và vừa có sức khỏe, ta sẽ dễ công quả ở chùa, cũng như phục vụ ngoài xã hội. Chúng ta làm việc trên tinh thần yêu công việc mình làm, không phải làm công việc mình thích. Thì người như vậy bắt đầu nghiệp chuyển, ta sẽ được may mắn hơn trong cuộc sống. Vì vậy người đệ tử Phật chân chính phải siêng năng rèn luyện thể lực, ta không thể là đệ tử Phật mà cơ thể gầy yếu bệnh tật rồi không giúp gì được cho người, cho đời. Hãy siêng năng làm phước sẽ thấy cuộc đời mình vui hơn. Người bị tâm lý trầm uất là do lười nhác.
Muốn dạy bảo thì phải có kiến thức. Muốn có kiến thức thì phải học. Từ nhỏ mình không siêng học thì lớn lên muốn dạy bảo ai sẽ không thành công. Người đệ tử Phật phải siêng học tập. Nhỏ thì học ở trường, lớn thì học đạo lý, học kiến thức xã hội, biết hết từ nội điển đến ngoại điển thì sau này một lời mình khuyên ai sẽ rất hợp lý. Còn chúng ta nói một chiều sẽ không thuyết phục mọi người. Điều quan tâm của họ chỉ là xã hội, khoa học, chính trị, mà nếu ta không có bề dầy kiến thức thì không kết nối với họ giữa cái đạo lý của Phật với kiến thức khoa học, chính trị, xã hội được.
Đời là phù du giả tạm nên có vinh quang, có làm phước đến cỡ nào, rồi cũng hết. Do đó mục đích cuối cùng, ý nghĩa cuối cùng ta tìm đến là Giác ngộ tâm linh, thành vị Thánh siêu phàm vượt khỏi trầm luân sinh tử. Chứ làm phước cho nhiều rồi trôi lăn hưởng phước vô ít, trong lúc trôi lăn cũng tạo nghiệp và trả quả cực lắm. Nên thôi, làm gì thì làm cuối cùng phải tu và nhìn chúng sinh muốn ai cũng phải tu. Nếu chỉ mình ta biết tu thì không bao giờ tu yên, do duyên đời ràng buộc mình đã mang nợ biết bao nhiêu người trong cuộc đời này. Trong kinh Kim Cang Phật dạy, muốn an trú tâm phải độ hết chúng sinh. Không ai được tu một mình. Mọi người mỗi lần đi chùa phải rủ mọi người đi theo. Muốn độ chúng sinh, thuyết phục chúng sinh tu theo, đạo hạnh ta phải sâu dày, phải rất tinh tấn tu tập.
Khi làm phước, phước đến ta không hưởng, làm phước tiếp, nhờ vậy ta chuyển được nghiệp. Khi gặp nạn ta cầu xin Bồ Tát Quan Âm và được tai qua nạn khỏi, như vậy là ta đã được Ngài cho mượn phước. Vậy để thành một vị đại Bồ tát phước phải vô tận. Và để làm điều đó ta phải bòn từng chút phước ngày hôm nay mà chuyển nghiệp của mình, quyết không làm người bình thường nữa. Phước bảo vệ ta không làm điều xấu, không nghĩ xấu, tâm ta từ từ thay đổi. Ta cứ làm phước mãi cho đến ngày ta làm Thánh để có thể cứu giúp tất cả chúng sinh.
Có người làm phước lớn rồi không thành Bồ tát mà thành ma vương, vì phước lớn vô tận sẽ có 5 hệ quả kèm theo, đó là: kiêu mạn, cao ngạo, ác độc, tham lam, thủ đoạn. Họ dùng phước vơ vét, bóc lột chúng sinh. Vì vậy, chúng ta phải vừa làm phước vừa tu Thiền định vô ngã thì mới thành Bồ tát.
Như vậy, ý nghĩa của làm phước là để chuyền nghiệp, để bảo vệ tâm hồn mình, để làm Thánh, v.v.... Mà làm phước bắt đầu từ việc rất nhỏ, nếu ta làm được hai điều trong tâm là kính trọng người giỏi hơn mình và yêu thương người kém hơn mình thì từ từ con đường phước mở ra thênh thang.

CÚNG THÍ THỰC ( CÔ HỒN )

CÚNG THÍ THỰC ( CÔ HỒN )
Cúng thí thực cho người mất là việc chúng ta nên làm, không những vào dịp cuối năm mà có thể thực hiện vào bất kì thời gian nào trong năm ( mùng 1 ,15 ...) Mỗi lần cúng chúng ta có thêm cơ hội để gieo duyên với các chúng cô hồn trong cõi siêu hình ( hồn ma, cô đơn vất vưởng, thiếu phước bị đọa vào cõi ngạ quỷ ) họ không chỉ thiếu về mặt vật thực, thức ăn mà còn đói khổ về mặt tinh thần, tình yêu thương con người. Chúng ta nên làm vài việc phúc vào dịp tết như bố thí , cúng dường, phóng sanh, từ thiện, ăn chay. Nếu làm đúng với tâm từ bi thương yêu các chúng sanh đang đói khổ thì tôi tin rằng chúng ta sẽ được họ gia hộ, cũng như được hưởng vô lượng phước báu, may mắn .
Chuẩn bị : gạo , muối , cơm, cháo, và chai nước lọc ( tuyệt đối không được cúng mặn, mà cho thêm khoanh giò, chả, thịt mồi, trứng....sát sinh) bởi vì khi chúng ta đọc thần chú biến thực và Nước sẽ không linh nghiệm, cô hồn sẽ không nhận được. Sau đây là bài nghi thức cúng thí thực kèm cầu siêu khai thị khá chuẩn hoan hỷ quý vị photo tiện tụng niệm.
( Đại chúng đồng tụng )
Cúi đầu lạy Đức Như Lai
Mười phương Pháp giới không ai sánh bằng.
Pháp thân thường trụ vĩnh hằng.
Hóa thân vô lượng nhọc nhằn độ sinh.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
( 3 lạy)
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật!
(1 lạy)
Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật!
(1 lạy)
Nam Mô Kim Quang Sư Tử Du Hí Như Lai ! (1 lạy)
Nam Mô Phổ Quang Công Đức Sơn Vương
Như Lai ! (1 lạy)
Nam Mô Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương
Như Lai ! (1 lạy)
Nam Mô Đa Bảo Như Lai !
(1 lạy)
Nam Mô Ly Bố Úy Như Lai !
(1 lạy)
Nam Mô Diệu Sắc Thân Như Lai !
(1 lạy)
Nam Mô Quảng Bác Thân Như Lai !
(1 lạy)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát !
(1 lạy)
Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát !
(1 lạy)
Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát !
(1 lạy)
Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát !
(1 lạy)
Nam Mô Đương Lai Thế Tôn Di Lặc Bồ Tát !
(1 lạy)
Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tam Bảo ! (1 lạy)
Đây thần chú tiếng Phạn:
Tịnh Khẩu Nghiệp Chơn Ngôn:
ÔM TU RÊ, TU RÊ, MA HA TU RÊ, TU TU RÊ, XOA HA (3 lần)
Tịnh Tam Nghiệp Chân Ngôn:
ÔM SOA BA VA, SUT ĐA XA R’VA, ĐA R’MA, SOA BA VA SUT ĐA HAM (3 lần)
Tốc Tật Thành Tựu Nhất Thế Chân Ngôn:
ÔM TA TA TU, TI TI TI TI, TU TU TU TU, VĂC RA XĂC ĐÔ RĂC, HUM VAM HÔC, H’RỊT , HĂC HUM, PHẠT HUM (3 lần)
Phổ Cúng Dường Chân Ngôn:
ÔM GA GA NA SAM BA VA, VĂC RA HÔC (3 lần)
Phổ Triệu Thỉnh Chân Ngôn:
NAM MÔ BU PU RI, KA RI TA RI, TA THA GA TA DA (3 lần)
Phá Địa Ngục Chân Ngôn:
ÔM CHA LA TÊ GIA XOA HA (3 lần)
Giải Oán Kết Chân Ngôn:
ÔM SAN TA RA KA TA XOA HA (3 lần)
Diệt Định Nghiệp Chân Ngôn :
ÔM PRA MA NI ĐA NI XOA HA (3 lần)
Kết Đàn Chân Ngôn:
ÔM VĂC RA CHĂC C’RA HUM, RĂC HUM, VAM HÔC (3 lần)
Tịnh Pháp Giới Chân Ngôn:
ÔM RAM (3 lần)
Con tên ...tuổi...ngụ tại (thường trú hay tạm trú ) số nhà ..., phường (xã) , quận (huyện ) ...Ngày nay...tháng ...năm....
Xin cung thỉnh chư vị Thiên – long bát bộ, hương linh quỷ thần khắp mười phương! (1 tiếng chuông)
Xin cung thỉnh chư vị cửu huyền thất tổ, các hương linh khắp dòng tộc nội ngoại ! (1 tiếng chuông)
Xin cung thỉnh chư vị oan gia trái chủ, kiếp này hay kiếp xưa từng bị con gây bao đau khổ, kết mối thâm thù! (1 tiếng chuông)
Thỉnh mời hết thảy chư vị về đây, trước hưởng đàn thí thực, sau dự lễ cầu siêu, nương nhờ Phật lực, nương nhờ Kinh Pháp mà được siêu thăng Tịnh Độ.
NGHI THỨC CÚNG THÍ THỰC
Tôn Pháp, chư Bồ Tát
Thinh Văn và Duyên Giác
Cùng các bậc Thánh Hiền
Duyên khởi đài sáng chói
Khắp xông mười phương cõi
Tỏa ngát các chúng sanh
Đều phát tâm Bồ Đề
Xa lìa các vọng nghiệp
Trọn nên Đạo Vô Thượng (1 tiếng chuông, xá 1 xá)
Nam Mô Hương Cúng Dường Tiêu Diện Đại Sĩ Bồ Tát Ma Ha Tát.
(3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá)
Ngày hôm nay, Phật tử chúng con sắp mâm lễ đơn sơ, của ít lòng nhiều, kính thỉnh chư vị vong linh, hương linh, cùng cô hồn ngạ quỷ khắp mười phương không phân biệt, về đây dùng bữa đặng ấm lòng. (1 tiếng chuông)
Xin quý vị cùng trì tụng :
Khai Yết Hầu Chân Ngôn:
ÔM BU PU TÊ RI KA TA RI, TA THA GA TA DA.
(3 lần)
Quán Thế Âm Bồ Tát Diệt Nghiệp Chướng Chân Ngôn:
ÔM A RÔ LICH XOA HA (3 lần)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát !
( 7 lần )
NHƯ Ý BẢO LUÂN VƯƠNG ĐÀ RA NI
Na mô But Đa Da
Na Mô Đạt Ma Da
Na Mô Xăng Ga Da
Na Mô A Va Lô Ki Tê Sờ Ra Va Da.
Bô Đi xat toa da. Ma ha xat toa da.
Ma ha ca ru ni ca da.
Ta đi a tha. Ôm. Cha cờ ra
Vạc ti, chin ta ma ni
Ma ha pát ma, ru ru
Ti sờ ta , gioa la. A các soa da.
Hum phát, soa ha. Ôm pát ma, chin ta ma ni
Gioa la hum. Ôm va ra đa. Pat mê hum. (3 lần)
Kính lạy Đấng Đại Từ Đại Bi- Quán Thế Âm Bồ Tát, xin nương nhờ nơi công đức của Đà Ra Ni này, xin nương nhờ Phật lực vô biên gia hộ, tùy tâm biến hiện theo sở thích của các vị trong Pháp hội đây, biến các phẩm vật này theo đúng ý từng vị, đầy đủ không thiếu chi.
CHÚ BIẾN THỰC
Nam Mô Sa rờ va, ta tha ga ta, A va lo ki tê. Om sam ba ra , sam ba ra hum ( 7 lần )
**************
CẦU SIÊU
Kính thưa quý vị đang hiện hữu trong Pháp hội đây !
Thế giới chúng ta đang sống đây bản chất là đau khổ, đầy những sinh, già, bệnh, chết, hoặc yêu thích mà phải xa lìa, hay ghét bỏ mà phải hứng chịu, hoặc cầu mong mà không toại nguyện, hoặc thân tâm ngũ ấm đòi hỏi, bức bách mà khổ.
Tám thứ khổ ấy cứ luân phiên dày vò chúng ta không ngừng nghỉ, khi thì kiếp người, khi qua kiếp thú, khi trong địa ngục, khi làm ngạ quỷ, ngay cả khi làm thần tiên, chư Thiên, phước hết rồi cũng phải trở lại các ác đạo, tiếp tục chuỗi đau khổ bất tận, cho đến nay cũng đã vô số kiếp rồi.
Chung quy cũng chỉ vì ta cứ mãi luyến ái, bám chấp vào các hình tướng ảo giả của thế gian, nhưng chúng đâu thể trường tồn mãi.
Bao nhiêu thứ thân xác, tài sản, vợ chồng, con cái, quyền thế, danh tiếng… thoáng chốc thời gian vụt đến cướp đi hết, chẳng có gì níu giữ được cả, vì bản chất của chúng là vô thường, là không thể tồn tại mãi.
Ai rồi cũng phải giã từ trần thế, khi đã qua bên kia thế giới rồi, ta đâu còn mang theo được gì ? Tài sản thì thất tán, quyền thế thì không còn. Thân thể thì dần hoại mục tan vào đất. Thân quyến thì dần đưa ta vào quên lãng. Tất cả đều phải tan biến, tất cả đều không thể níu giữ, đó là quy luật không thể khác.
Bao nhiêu vương vấn thế gian chỉ khiến các vị nặng nề, trói buộc quý vị không thể siêu thoát lên hưởng an lành trên các cõi tiên, cõi Thánh. Bao nhiêu hận thù, oán chấp chỉ khiến quý vị thêm sự dày vò, khổ sở, bức bách.
Xin quý vị hãy buông bỏ những thứ mong manh, huyễn hóa ấy đi, để lo tìm một con đường siêu thoát cho chính mình, vĩnh viễn thoát khỏi mọi sự dày vò, đầy đọa của luân hồi sinh tử này !
Nếu vì mối thâm thù thủa xưa, vì ngu si tôi đã gây bao đau khổ cho quý vị, khi hại mạng kết thành nợ máu, khi hành hạ, khi đánh đập, khi bóc lột, khi cưỡng đoạt… đủ mọi tội lỗi. Ngày hôm nay tôi xin chân thành ăn năn sám hối, dập đầu tạ tội với quý vị oan gia trái chủ. Chỉ mong quý vị buông bỏ được lòng thù hận, thân tâm nhẹ nhõm mà được siêu thoát an lành! ( 1 lạy )
Nếu vì nghiệp lực chi phối, khiến các vị khổ đau nhiều cách chẳng tự thoát ra được , nay xin các vị cùng thành tâm đọc tụng thần chú Đại Bi của Quán Thế Âm Bồ Tát, có công năng tiêu trừ nghiệp chướng, khiến thân tâm an lạc, thư thái, xa lìa sự đau khổ.
Xin các vị đồng tụng theo :
Nam mô đại bi Quán Thế Âm,
nguyện con mau biết tất cả pháp.
Nam mô đại bi Quán Thế Âm,
nguyện con sớm được mắt trí huệ.
Nam mô đại bi Quán Thế Âm,
nguyện con mau độ các chúng sanh,
Nam mô đại bi Quán Thế Âm,
nguyện con sớm được phương tiện khéo.
Nam mô đại bi Quán Thế Âm,
nguyện con mau lên thuyền bát nhã.
Nam mô đại bi Quán Thế Âm,
nguyện con sớm được qua biển khổ,
Nam mô đại bi Quán Thế Âm,
nguyện con mau được đạo giới định.
Nam mô đại bi Quán Thế Âm,
nguyện con sớm lên non Niết Bàn.
Nam mô đại bi Quán Thế Âm,
nguyện con mau về nhà vô vi.
Nam mô đại bi Quán Thế Âm,
nguyện con sớm đồng thân pháp tánh.
Nếu con hướng về nơi non đao,
non đao tức thời liền sụp đổ.
Nếu con hướng về lửa, nước sôi,
nước sôi, lửa cháy tự khô tắt.
Nếu con hướng về cõi địa ngục,
địa ngục liền mau tự tiêu diệt,
Nếu con hướng về loài ngạ quỷ.
Ngạ quỷ liền được tự no đủ,
Nếu con hướng về chúng Tu La,
Tu la tâm ác tự điều phục,
Nếu con hướng về các súc sanh,
súc sanh tự được trí huệ lớn.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát !
( 7 lần)
Nam Mô A Di Đà Phật ! (7 lần )
*******************
CHÚ ĐẠI BI
Nam-mô Ðại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần)
THIÊN THỦ THIÊN NHÃN VÔ NGẠI ĐẠI BI TÂM ĐÀ RA NI
Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da.
Nam mô a rị da bà lô yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa.
Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da, bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà.
Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô, kiết mông độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô, ma ra hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha. o
Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.
Nam mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.
Án, tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ ta bà ha. (3 lần khi trì biến cuối cùng)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát !
(7 hoặc 21, 49… lần hoặc nhiều hơn tùy tâm)
Con nguyện hồi hướng công đức trì tụng Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni này đến tất cả chư vị trong pháp hội đây, nguyện nhờ công đức này, các vị ấy được tiêu trừ nghiệp chướng, thân tâm được an lạc, lòng tin kính Tam Bảo tăng trưởng vô tận, buông bỏ mọi chấp trước, dốc lòng trì niệm Nam Mô A Di Đà Phật mà được vãng sinh về Tây Phương Cực Lạc.
******************
Kính thưa quý vị, khi còn tại thế, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng dạy trong kinh rằng, từ thế giới này hướng về phương tây quá mười vạn ức cõi nước chư Phật, có một thế giới gọi là Cực Lạc, mà cõi ấy có đức Phật hiệu là A-Di-Đà-Phật và nay ngài đang thuyết pháp tại đó.
Cõi thế giới ấy đủ mọi sự đẹp đẽ, lộng lẫy, y phục , ẩm thực ăn uống thượng diệu, vô cùng sung sướng, vui thích, không hề có các thứ đau khổ như đói khát, bệnh hoạn, thương tật, hận thù…Người được sinh về Cực Lạc rồi tuổi thọ vô lượng, nương nơi Phật lực, thẳng tiến tu hành cho đến khi đạt đến Đại Niết Bàn, chứng được Thánh quả.
Người muốn được sinh về thế giới ấy chỉ cần đem hết lòng thành, không ngừng trì niệm “Nam Mô A Di Đà Phật !” và nguyện được sinh về cõi Tây Phương Cực Lạc. Khi mãn kiếp người, Đức Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật sẽ hóa thân đón về thế giới của Ngài.
Thân tôi là người trần mắt thịt, dương số chưa tận, chưa thể nhìn thấy Phật A Di Đà, nhưng quý vị là thân siêu hình, chỉ cần chân thành trì niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” và xin nguyện sinh về Tây Phương Cực Lạc, quý vị sẽ thấy ngay Phật A Di Đà phóng quang đến tiếp độ.
Vậy nay xin quý vị cùng tôi, dốc hết lòng thành, xưng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” và phát nguyện Vãng Sinh:
“Nam Mô Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật!
Chúng con xin đem hết căn lành, dốc lòng niệm Phật, nguyện được sinh về cõi Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà ! Xin Phật từ bi phóng quang tiếp dẫn !” (1 lạy)
BÀI TÁN LỄ CẦU VÃNG SINH
A Di Đà Phật thân sắc vàng,
Tướng tốt rực rỡ hào quang sáng ngời,
Mày trắng tỏa, Tu Di uyển chuyển,
Mắt trong ngần bốn biển long lanh,
Ánh hào quang hóa vô số Phật,
Vô số Bồ Tát hiện ở trong,
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh,
Chín phẩm sen vàng lên giải thoát,
Qui mạng lễ A Di Đà Phật,
Ở Phương Tây thế giới an lành
Con nay xin phát nguyện vãng sanh,
Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ.
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. ( 1 lạy )
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT ! ( ít nhất 108 câu)
CHÚ VÃNG SINH
Nam-mô a di đa bà dạ
Ða tha dà đa dạ
Ða địa dạ tha.
A di rị đô bà tỳ
A di rị đa tất đam bà tỳ
A di rị đa tì ca lan đế
A di rị đa, tì ca lan đa
Dà di nị dà dà na
Chỉ đa ca lệ ta bà ha. (3 lần)
Con nguyện hồi hướng công đức này, xin cho các vị trong Pháp hội đây, được tiêu trừ nghiệp chướng, đều được sinh lên Tây Phương Cực Lạc, nhanh chóng viên thành Đạo Quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, quảng độ chúng sinh.
Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tam Bảo !
( 3 lần )
TAM TỰ QUY Y
Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sinh, thể giải đại đạo,
phát Vô thượng tâm.
Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sinh, thâm nhập kinh tạng,
trí tuệ như hải.
Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sinh, thống lý đại-chúng,
nhất thiết vô ngại.

Thứ Hai, 4 tháng 2, 2019

TỔNG HỢP VĂN KHẤN TẾT NGUYÊN ĐÁN - THIỀN TÔN PHẬT QUANG

TỔNG HỢP VĂN KHẤN TẾT NGUYÊN ĐÁN - THIỀN TÔN PHẬT QUANG
VĂN KHẤN CÚNG GIAO THỪA, NGÀY 30 TẾT
Lễ cúng giao thừa là thời khắc mà Trời Ðất giao hòa, Âm Dương hoà quyện để vạn vật bừng lên sức sống mới. Đối với người Việt Nam phút giao thừa thật thiêng liêng và trang trọng. Và chiều 30 tết còn gọi là ngày trừ tịch. Lễ Trừ Tịch được cử hành đúng vào lúc giao thừa.
Ý nghĩa của lễ trừ tịch là đem bỏ đi hết những điều xấu dở cũ kỹ của năm cũ sắp qua để đón những cái mới, tốt đẹp của năm mới.
Thông thường, các gia đình thường cúng lễ trừ tịch cả ở ngoài trời và trong nhà. Việc cúng này cũng có nơi cử hành ở đình, miếu.
Sau khi quét dọn nhà cửa cổng ngõ, sửa sang bàn thờ, bỏ hết chân nhang cũ, thay cát mới vào lư hương, chỉ còn lại 1 hoặc 3 chân nhang cũ đẹp nhất, đốt thêm, cắm chân nhang đứng thẳng rồi đặt lên bàn thờ.
Sau đó, đại điện trong nhà có người ra nghĩa địa thắp hương tổ tiên và họ hàng thân thích, thỉnh mời tổ tiên về chứng giám ngày Tết của con cháu (không thắp hương mã mới). Thiết trí nhà cửa gọn gàng, sạch đẹp… Sau đó làm mâm cỗ cúng Phật, Gia tiên.
LỄ CÚNG GIAO THỪA TRONG NHÀ
* Sắm lễ: Lễ vật trong lễ cúng giao thừa
Bàn thờ Phật gồm: hương hoa, trái cây, đèn nến, trầm hương (nếu có), thức ăn chay thanh khiết (cơm, xôi, chè, bánh kẹo… tuỳ theo sự chuẩn bị của mỗi gia chủ)
Bàn thờ Gia tiên (thờ tổ tiên, ông bà) chầu hướng về bàn Phật bày các lễ vật:
+ Hương hoa, đèn nến
+ Trầu cau, trà, nước uống, bánh kẹo, trái cây.
+ Mâm cỗ ngày Tết: nên cúng thức ăn chay (Tuỳ theo sự chuẩn bị của mỗi gia chủ)
Văn khấn cúng giao thừa trong nhà
(Sau khi bày lễ thì đốt nến/đèn, thắp nén hương thơm lên bàn thờ Phật, bàn thờ Gia tiên thành kính chắp tay khấn nguyện)
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát
Con kính lạy Mười Phương Phật, Mười Phương Pháp, Mười Phương Tăng.
Hôm nay là ngày 30 tháng Chạp năm ……………… Gia đình chúng con là: (liệt kê họ tên) ……………………………………….. Ngụ tại:………………………………………………
Trước án kính cẩn thưa trình:
Năm cũ qua đi bước sang năm mới
Mong cuộc đời đến với an vui
Hành tinh rộn rã tiếng cười
Hoà bình hạnh phúc mọi người thương nhau.
Chúng con cùng toàn thể gia quyến thành tâm sắm sửa phẩm vật hương hoa, cơm canh thanh đạm, chi nghi phẩm vật thanh khiết trên hết dâng cúng Mười Phương Tam Bảo, đến chư vị Thiên địa Tôn thần, phụng hiến Tổ tiên, truy niệm chư gia Cao Tằng Tổ Khảo, Tiên linh nội ngoại cùng cửu huyền thất tổ, lục thân quyến thuộc. Kính thỉnh mời chư vị lai lâm chứng giám, thụ hưởng lễ vật.
Ngưỡng nguyện Mười Phương Chư Phật, chư Đại Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng cùng chư vị thiện thần từ bi gia hộ cho gia đình thân quyến Nội Ngoại an khang thịnh vượng, gia đình êm ấm thuận hòa, tử tôn hiếu thuận, tật bệnh tiêu trừ, tai qua nạn khỏi, tội diệt phước sanh, thiện căn tăng trưởng, đạo tâm kiên cố. Đời đời kiếp kiếp nương bóng từ bi tu theo Phật đà, thoát khỏi đường mê, quay về bờ giác, muôn việc hanh thông, trên dưới một lòng, thực hành Chánh pháp, bốn ân nguyện đáp, ba cõi đều nhờ, tất cả sang bờ an vui giải thoát, giới hương thơm ngát lan tỏa mười phương, hai cảnh âm dương đồng nương lợi lạc.
Phổ nguyện gia môn hưng thịnh, quyến thuộc bình an, nội ngoại tiên linh cùng cửu huyền thất tổ nhiều đời xả bỏ ưu phiền, nhất tâm hướng thiện, quy y Tam Bảo, thoát khỏi mê đồ, tin sâu Nhân quả, tránh xa điều ác làm các việc lành, tinh tấn tu hành, gây tạo vô lượng công đức lành rồi nương nhờ Phật lực sớm vãng sanh về cõi giới an lạc, đời đời không còn thối chuyển với Chánh pháp.
Nguyện cho tất cả chúng sanh đều trọn thành Phật đạo, chứng thành đạo quả.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
LỄ CÚNG GIAO THỪA NGOÀI TRỜI
* Sắm lễ:
Lễ vật trong lễ cúng giao thừa gồm:
+ Hương, hoa, đèn nến
+ Mâm cơm chay, ấm trà, bánh,….
Tất cả được bày lên bàn trang trọng đặt ở trước cửa nhà.
Mâm lễ cũng giao thừa phải được chuẩn bị chu đáo, trang trọng với lòng thành kính.
Vào đúng thời điểm giao thừa, người chủ gia đình phải thắp đèn, nến, rồi khấn trước án bát hương.
Văn cúng giao thừa ngoài trời:
Nay là phút giao thừa năm……… Gia đình chúng con là: (liệt kê họ tên)…………… Ngụ tại:……………………………………………………………….
Giao thừa chuyển năm
Năm cũ qua đi
Năm mới đã đến
Tam dương khai thái
Vạn tượng canh tân.
Tín chủ thành tâm tụng:
Chúng con kính lạy cha lành
Cho con được thấy màu xanh hòa bình
Thế gian khỏi cảnh đao binh
Hận thù xóa sạch đón bình minh sang.
Chúng con lạy ánh từ quang
Chiếu soi đất nước ngày càng thăng hoa.
Ai ai cũng sống hiền hòa
Hiểu sâu nhân quả như là thánh nhân.
Cho con lạy cả nghìn lần
Cầu cho phật pháp muôn phần hưng long.
Tu hành giải thoát hằng mong
Chứng thành Phật quả trọn lòng độ sinh.
Chúng con lạy ánh bình minh
Cho con được thấy bóng hình tổ tiên.
Ông bà nơi cõi linh thiêng
Nay nương Phật lực về miền an vui.
Chúng con kính lạy đạo mầu
Cầu cho bè bạn tin sâu đạo huyền.
Cuộc đời vốn tựa con thuyền
Lênh đênh sóng nước đẩy thuyền trôi xa.
Tội gây nhân quả chẳng tha
Biết tin luật ấy thật là phúc thay.
Đầu xuân đoàn tụ sum vầy
Cầu cho tất cả đoạn lần ngã kia
Cái tôi quyết chí xa lìa
chuyên tâm phụng sự sẻ chia mọi điều.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
GỢI Ý CẦU NGUYỆN ĐÊM GIAO THỪA
Ý thứ nhất, cầu nguyện điều gì tốt đẹp cho thế giới loài người.
Ý thứ hai, cầu nguyện điều gì tốt đẹp cho quê hương đất nước.
Ý thứ ba, cầu nguyện cho Phật Pháp hưng long, nhiều người tu hành tinh tấn đắc thành chính quả.
Ý thứ tư, cầu nguyện cho tổ tiên theo Phật tu hành siêu thoát.
Ý thứ năm, cầu nguyện cho cha mẹ, gia đình biết kính Phật, tin nhân quả, làm phúc nhiều, tinh tấn tu tập, hộ trì chánh pháp, xây dựng đạo tràng.
Ý thứ sáu, cầu nguyện cho cộng đồng quanh ta như láng giềng, đồng nghiệp, họ hàng, cơ quan, bạn bè, được nhiều phúc lành may mắn, gặp được chánh pháp tu hành, cùng làm điều phúc thiện, cùng hướng về đạo lý cao thượng.
Ý thứ bảy, cầu cho chính mình diệt trừ được bản ngã, được khí lực sức khỏe để tu hành mà diệt trừ bản ngã, được may mắn tài lộc để san sẻ làm phước mà hồi hướng tu hành diệt trừ bản ngã, được tâm từ bi yêu thương để diệt trừ bản ngã, được lòng tôn kính Phật tuyệt đối để đủ phước diệt trừ bản ngã.
VĂN KHẤN TẾT NGUYÊN ĐÁN
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát
Con kính lạy Mười Phương Phật, Mười Phương Pháp, Mười Phương Tăng.
Con kính lạy các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, bá thúc huynh đệ, đường thượng tiên linh, và các hương hồn nội tộc, ngoại tộc.
Hôm nay là ngày 30 tháng Chạp năm…………….. Gia đình chúng con là: (liệt kê họ tên) …………………………………… Ngụ tại:…………………………………………………..
Chúng con cùng toàn thể gia quyến thành tâm sắm sửa phẩm vật hương hoa, cơm canh thanh đạm, chi nghi phẩm vật thanh khiết trên hết dâng cúng
Mười Phương Tam Bảo, đến chư vị Thiên địa Tôn thần, phụng hiến Tổ tiên, truy niệm chư gia Cao Tằng Tổ Khảo, Tiên linh nội ngoại cùng cửu huyền thất tổ, lục thân quyến thuộc. Kính thỉnh mời chư vị lai lâm chứng giám, thụ hưởng lễ vật.
Trước án kính cẩn thưa trình:
Cúi xin chứng giám.
Lễ bạc lòng thành.
Thỉnh cáo Tiên linh.
Cùng vui hâm hưởng.
Tôn linh tại thượng,
Phù hộ độ trì,
Năm mới mọi bề,
An khang thịnh vượng.
Ngưỡng nguyện Mười Phương Chư Phật, chư Đại Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng cùng chư vị thiện thần từ bi gia hộ cho gia đình thân quyến Nội Ngoại an khang thịnh vượng, gia đình êm ấm thuận hòa, tử tôn hiếu thuận, tật bệnh tiêu trừ, tai qua nạn khỏi, tội diệt phước sanh, thiện căn tăng trưởng, đạo tâm kiên cố. Đời đời kiếp kiếp nương bóng từ bi tu theo Phật đà, thoát khỏi đường mê, quay về bờ giác, muôn việc hanh thông, trên dưới một lòng, thực hành Chánh pháp, bốn ân nguyện đáp, ba cõi đều nhờ, tất cả sang bờ an vui giải thoát, giới hương thơm ngát lan tỏa mười phương, hai cảnh âm dương đồng nương lợi lạc.
Phổ nguyện gia môn hưng thịnh, quyến thuộc bình an, nội ngoại tiên linh cùng cửu huyền thất tổ nhiều đời xả bỏ ưu phiền, nhất tâm hướng thiện, quy y Tam Bảo, thoát khỏi mê đồ, tin sâu Nhân quả, tránh xa điều ác làm các việc lành, tinh tấn tu hành, gây tạo vô lượng công đức lành rồi nương nhờ Phật lực sớm vãng sanh về cõi giới an lạc, đời đời không còn thối chuyển với Chánh pháp.
Nguyện cho tất cả chúng sanh đều trọn thành Phật đạo, chứng thành đạo quả.
Cẩn cáo. Tín chủ thành tâm tụng:
Cúi đầu lạy Phật mười phương
Xin thương tế độ quê hương Lạc Hồng
Chúng con máu chảy một dòng
Thương nhau như nước biển Đông dạt dào
Non song rừng thẳm núi cao
Tổ tiên khí phách biết bao anh hùng
Nhiều phen vận nước khốn cùng
Nhưng rồi hào kiệt chung lòng đứng lên
Giữ gìn xã tắc vững bền
Dựng xây bờ cõi, đắp nền văn minh
Nghìn xưa chùa miếu hiển linh
Dưới trên tin kính, lòng thành bay xa
Phật từ như một người cha
Chở che dân tộc hiền hòa an vui
Chúng con triệu triệu con người
Một lòng theo Phật, đắp bồi quê hương
Trái tim Phật là tình thương
Nghìn lời Phật dạy là đường thăng hoa
Niềm tin Nhân Qủa sâu xa
Gieo gì gặt nấy, thật là công minh
Mỗi dòng họ, mỗi gia đình
Dạy răn con cháu phúc lành gắng xây
Cuộc đời như gió như mây
Nhưng điều phúc thiện phải dày như non.
Tôn kính Phật, yêu nước non
Nên tình dân Việt sắt son chẳng sờn
Dù kẻ kém, hoặc người hơn
Cũng không qua được tình thân đồng bào.
Dù Nam, Trung, Bắc nơi nào
Miền xuôi, mạn ngược: máu đào Việt Nam
Hoặc người viễn xứ lâu năm
Quê cha đất tổ chẳng làm sao quên
Nguyện lòng mong sẽ đáp đền
Quê hương yêu dấu, Tổ tiên hào hùng.
Nay con dâng cả tấm lòng
Cúi xin Chư Phật đoái trông độ trì
Trên đường Thế Giới cùng đi
Việt Nam sẽ sáng như vì sao mai
Trước là Đạo đức chói ngời
Ai ai cũng biết sống đời vị tha
Anh tài xuất hiện như hoa
Trong mùa xuân mới, vang ca thái bình
Những người vì lợi bán mình
Biết hồi tâm để vẹn tình nước non
Ngoại bang dòm ngó mưu toan
Cũng hồi tâm để không còn hại nhau
Bao năm xương trắng máu đào
Giờ đây ai cũng khát khao thanh bình
Đừng ai gây cuộc đao binh
Trẻ thơ côi cút, gia đình ly tan
Hãy nghe chuông buổi chiều vang
Để theo bước Phật nhẹ nhàng an vui
Đời là một giấc mơ thôi
Trái tim từ ái trải nơi đất trời
Tâm Vô Ngã rất thảnh thơi
Thong dong siêu thoát Luân Hồi khổ đau
Chúng con thành kính nguyện cầu
Người dân Việt biết thương nhau thật lòng
Xóa đi nghiệp cũ cha ông
Sông Gianh, Bến Hải đau lòng biết bao
Bây giờ tình nghĩa đồng bào
Vượt qua thù hận ngày nào chưa nguôi
Xin thương yêu đến mọi người
Chung tay xây dựng đất trời Việt Nam
Diệt trừ ích kỷ tham lam
Bỏ đi đố kỵ, bạo tàn, ghét ganh
Tặng nhau sự sống hiền lành
Giúp nhau sinh kế để thành công chung.
Mai này nước Việt hưng long
Góp vào Thế Giới đại đồng bao la
Rạng ngời chân lý Phật Đà
Từ bi rực sáng như là ánh dương
Lòng người chỉ có tình thương
Hành tinh chỉ có thiên đường mà thôi.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần, 3 lạy)
VĂN KHẤN CÚNG MÃN TẾT (MÙNG 3)
Mâm lễ vật cúng:
Bàn thờ Phật gồm: hương hoa, trái cây, đèn nến, trầm hương (nếu có), thức ăn chay thanh khiết (cơm, xôi, chè, bánh mứt,… không có thức ăn xào, kho, chiên,…)
Bàn thờ Gia tiên (thờ tổ tiên, ông bà) chầu hướng về bàn Phật bày các lễ vật:
+ Hương hoa, đèn nến
+ Trầu cau, trà, nước uống, bánh kẹo, trái cây.
+ Mâm cỗ ngày Tết: nên cúng thức ăn chay (Tuỳ theo sự chuẩn bị của mỗi gia chủ)
Ngoài bàn thờ Phật và Gia Tiên, gia chủ có thể bày thêm 1 mâm cỗ riêng thịnh soạn, thanh đạm tại nhà (nên là thức ăn chay) tùy theo điều kiện. Mâm cỗ gồm có: ly hương, hương hoa, trái cây, đèn nến cùng thức ăn.
Sau khi bày lễ thì đốt nến (đèn), thắp nén hương thơm lên bàn thờ Phật, bàn thờ Gia tiên và mâm cỗ riêng (nếu có) thành kính chắp tay khấn nguyện.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam Mô Hộ Pháp Chư Thiên Bồ Tát
Giờ này ngọ thời ngày mùng 3 Tết năm………Tín chủ (chúng) con…………………..
Ngụ tại :…………………………………………………..
Chúng con thành tâm thiết lễ hương hoa lễ vật dâng cúng. Chúng con thành tâm thỉnh mời Mười Phương Chư Phật, chư Đại Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, cùng chư vị thiện thần Hộ Pháp và chư vị Thần Hoàng Thổ Địa xứ này lai lâm chứng giám cho chúng con.
Chúng con cũng phụng thỉnh ông bà Tổ tiên, chư gia Cao Tằng Tổ Khảo, Tiên linh nội ngoại cùng cửu huyền thất tổ, lục thân quyến thuộc quang giáng chứng minh thụ hưởng lễ vật
Tiệc xuân đã mãn
Lễ tạ kính trình
Rước tiễn tiên linh
Lại về âm giới
Buổi đầu năm mới
Toàn gia mong đợi
Lưu phúc lưu ân
Ơn trên Tam Bảo
Phù trì phù hộ
Dương cơ âm mộ
Mọi chỗ tốt lành
Con cháu an ninh
Vận hành khang thái.
Ngưỡng nguyện Mười phương Tam Bảo, Long Thần Hộ Pháp, Chư vị Thổ Thần, Tiên linh nội ngoại từ bi gia hộ cho năm mới gia đình được bình yên và ổn định trong cuộc sống; cả gia đình tâm không phiền não, thân không bệnh tật, luôn luôn khỏe mạnh, hàng ngày an vui làm việc theo pháp Phật nhiệm màu, để cho vận đáo hanh thông, phúc thọ an khang, nhân lành nảy nở, nghiệp dữ tiêu tan bốn mùa không hạn ách nghĩ lo, để luôn luôn đời đời thấm nhuần ơn Phật Pháp.
Cây có cội, nước có nguồn, con người thì có Tổ Tiên Ông Bà, Cha Mẹ. Bổn phận con cháu chúng con phải đáp đền công ơn sinh thành dưỡng dục như trời cao biển rộng ấy.
Cây có gốc mới tỏa cành, sanh ngọn
Nước có nguồn mới bủa khắp rạch song
Con người có Tổ có Tông
Đừng quên nguồn gốc, mới không uổng công vun trồng.
Cúi xin cho các con cháu luôn luôn được khỏe mạnh, thông minh, học hành tấn tới, văn hay chữ tốt, thi cử đỗ đạt, nhu thuận hiếu hòa; kính trên nhường dưới, tu theo Phật pháp, tin sâu Nhân quả, biết tới Luân hồi, tìm về vô ngã, phước thọ tăng lên, vững nguyện quy y Tam Bảo, thuận dòng chánh giác, tai nạn tiêu trừ, thân tâm thanh tịnh.
Đặng xin cứu độ cho các bậc Tôn Trưởng cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc, cùng cả chúng sinh đều thành Phật đạo.
Con cúi xin mười phương chư Phật, chư Đại Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng chứng giám lòng thành của chúng con. Con cúi xin Tam Bảo gia trì Phật lực cho các vị quá cố, cửu huyền thất tổ, Đa Sanh Phụ Mẫu được gặp ánh sáng hào quang của Chư Phật, chư Thánh Tăng soi tỏ phát tâm tỉnh giác, lìa khổ vô minh, khởi niệm từ bi, xa rời đường dữ, quy y Tam Bảo, đời đời sinh cõi lành an vui. Lại nguyện thế giới, nạn nhân chiến tranh, âm linh cô hồn đồng nương ánh sáng từ bi tiêu diêu tự tại.
Khắp nguyện cầu cho quốc thái dân an, mưa nắng thuận hòa, kẻ mất siêu thăng, người còn phúc lạc, chúng sinh được thấm nhuần mưa pháp, người người thương yêu nhau, mọi người đều chứng thành Phật đạo.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
VĂN KHẤN CÚNG HƯƠNG LINH NGÀY TẾT
Để viên tròn công đức, gia chủ có thể bày thêm một mâm cỗ cúng thí thực cho chư vị hương linh. Nếu có, bày mâm cỗ cúng thí thực thì bày trước cửa nhà, chuẩn bị vật thực đủ đầy, tốt nhất là cúng chay để chư vị hương linh thọ thực trong sự thanh khiết và an lành. Nên kiêng việc đốt quá nhiều vàng mã vì sẽ gây hao phí và ô nhiễm môi trường, nếu muốn các hương linh được siêu thoát tốt nhất nên làm những việc công đức rồi hồi hướng để chư vị thọ nhận một cách trọn vẹn nhất. Âm siêu thì dương thới, cõi âm siêu thoát thì cõi dương cũng được vạn sự hanh thông, gia đạo được bình an và may mắn trong năm mới.
Sau khi thiết trí mâm cúng đầy đủ, gia chủ nguyện:
Từ tâm thương khắp chúng sanh
Trai diên phẩm vật lòng thành bày ra
Thỉnh mời trên dưới gần xa
Hương linh tất cả đến mà thọ trai
Hướng về giáo pháp Như Lai
Quy y tu tập ngày mai an lành.
Hôm nay là ngày …… tháng …… năm …… Chúng con sửa biện hương hoa lễ vật, vật thực thơm ngon bày lên Linh án. Gia chủ chúng con thành tâm phát nguyện hiến cúng thí thực, ngưỡng nguyện trên mười phương chư Phật gia hộ cho hết thảy âm binh, cô hồn các chư vị hương linh khuất mặt, lẫn khuất quanh đây, các linh hồn chiến sĩ trận vong vì nước, các oan hồn không nơi nương tựa, xin về đây nghe văn khấn và thọ thực (thọ hưởng lễ vật).
Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát Ma Ha Tát (3 Lần)
Tụng bài khấn cho hương linh:
Nam Mô mười phương Phật
Nam Mô mười phương Pháp
Nam Mô mười phương Tăng
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.
Xin từ bi gia hộ
Cho hương linh quanh đây
Về nghe kinh thọ thực
Rồi Quy Y siêu thoát.
Nguyện những thức ăn này
Đầy khắp cả hư không
Khiến vô số hữu tình
Được ấm no đầy đủ
Nguyện những thức ăn này
Rất thơm lành ngon ngọt
Khiến cho các hương linh
Được an vui sung sướng
Nguyện cho các hương linh
Khi hưởng thức ăn này
Được thấm nhuần Phật ân
Hướng tâm về Phật pháp.
Nguyện cho các hương linh
Biết tôn kính Phật đà
Chư Bồ Tát từ bi
Chư Thánh Tăng giác ngộ.
Nguyện cho các hương linh
Biết thương yêu muôn loài
Thường giúp đỡ mọi người
Được an vui tốt đẹp
Hương linh sống hiền lành
Không gây tổn hại ai
Không gây nên sợ hãi
Hoặc những điều tai họa
Từ bỏ tâm hẹp hòi
Những ganh ghét hơn thua
Những ác độc hận thù
Nhỏ nhoi và ích kỷ.
Biết sống đời thanh bai
Không chìm đắm vào trong
Những lạc thú tầm thường
Rượu chè và tính dục
Hương linh không tham lam
Không muốn nhiều cho mình
Biết nghĩ đến chúng sinh
Để nhường cơm sẻ áo
Hương linh không nóng giận
Biết điềm tĩnh an hòa
Dù gặp cảnh khó khăn
Vẫn an nhiên tự tại
Hương linh không tự cao
Nghĩ mình là thấp hèn
Nên tôn trọng mọi người
Và gắng công tu tập
Xin chư Phật xót thương
Khiến các hương linh này
Thoát được nghiệp oan khiên
Sinh về nơi cõi Phật
Hương linh sẽ phát tâm
Đến vô thượng Bồ Đề
Nguyện độ khắp chúng sinh
Cùng lên ngôi chánh giác.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (21 lần)
Ba cõi luân hồi thật thảm thương
Sanh sanh tử tử khổ vô lường
Sám hối tiền khiên tiêu tội chướng
Quy y Tam Bảo thoát tam đồ
Bể khổ mênh mông quay đầu thấy bến
Một phút lỡ lầm ngàn thu ân hận
Nguyện nhờ oai lực Mười phương Chư Phật hóa hiện thức ăn này thành vô lượng, vô biên khắp pháp giới để cho chư vị hương linh được hưởng thọ thực dài lâu và đầy đủ, gieo duyên lành từ đây với Phật pháp, xả bỏ ưu phiền, nhất tâm hướng thiện, quy y Tam Bảo, tin sâu Nhân quả, tránh xa điều ác làm các việc lành, tinh tấn tu hành, gây tạo vô lượng công đức lành rồi nương nhờ Phật lực sớm vãng sanh về cõi giới an lạc, đời đời không còn thối chuyển với Chánh pháp.
Kính xin chư vị hương linh chứng minh thọ hưởng vật thực, độ trì cho những người hữu duyên tin hiểu Phật Pháp, vạn sự bình an, sở cầu tất ứng, hoạn lộ hanh thông, Đông thành Tây tựu, trú sở cát tường.
Nghi thức cúng đã xong, kính thỉnh mời chư vị thọ nhận.

Sự hòa quyện giữa tôn giáo và khoa học

Chúng ta đang sống trong một thời đại không may mắn vì thường bị buộc phải chọn ủng hộ khoa học hoặc tôn giáo, chứ không thể chọn cả hai.
Thái độ đối đãi một mất một còn như vậy đang ngày một trở nên phổ biến hơn trong xã hội hiện nay, ít nhất là trong giới trí thức tinh hoa. Nhưng liệu nó có đúng đắn và hợp lý không?
Lịch sử đã ghi nhận không ít các nhà khoa học tìm ra những phát kiến lớn lao trong khi vẫn kiên trí đức tin vào một Đấng Sáng Thế. Có thể kể ra Isaac Newton, Nicolaus Copernicus và Gregor Mendel và nhiều nhà khoa học khác – họ đã có được những thành tựu đột phá trong khi tin rằng các phát kiến khoa học là một phần không thể thiếu trên con đường hoàn thành sứ mệnh thần thánh của con người, chứ không phải để phủ nhận sự tồn tại của sứ mệnh ấy.
Năm 1915, Albert Einstein đề xuất thuyết tương đối rộng, lập ra mối quan hệ giữa không gian, thời gian và trọng lực, và đưa ra các phương trình để mô tả mối quan hệ phức tạp đó. Ông đã đạt đến mức độ chi tiết mà người ta không cách nào hình dung ra trước đó.
Georges Lemaitre thuyết big bang, tôn giáo và khoa học
Georges Lemaître (Ảnh: ĐH Leuven)
12 năm sau, Georges Lemaitre, một giám mục Dòng Tên giảng bài tại Trường Đại học Thiên Chúa Giáo Leuven bằng tiếng Bỉ, đã xuất bản một nghiên cứu chấn động có tên “Biên niên sử Xã hội Khoa học ở Brussels.” Lemaitre, người từng học tập và nghiên cứu tại Cambridge, Harvard và MIT, cũng là một tên tuổi nặng ký.
Những gì ông đề xuất trong bài báo năm 1927 ấy là cấp tiến và ngoạn mục.

Sự bắt đầu của thời gian

Những hiểu biết thông thường của giới khoa học về thời gian cho rằng vũ trụ là vô hạn, tồn tại vĩnh viễn và không thay đổi. Nó đã từng và sẽ luôn luôn tồn tại, và nó không có biên giới. Đó là điều Einstein và hầu hết các nhà khoa học có uy tín đều tin tưởng. Sau đó, vị tu sĩ người Bỉ xuất hiện, từ các lý thuyết và phương trình của Einstein mà lập luận rằng những hiểu biết thông thường kia là sai.
Lemaitre cho rằng vũ trụ không phải là vô hạn, nó không tồn tại vĩnh viễn, và nó liên tục thay đổi. Trên thực tế, nó đang nở ra và sẽ tiếp tục nở ra.
Lemaitre không thể dự đoán liệu sự giãn nở ra này cuối cùng có chậm lại rồi dừng hẳn và co lại hay không (các nhà vật lý học hiện đại tin rằng sự nở ra của vũ trụ sẽ tăng tốc và nó sẽ không co lại), nhưng ông ấy chắc chắn rằng sự nở ra đã và đang diễn ra.
Và đây là lúc mọi chuyện trở nên thú vị.
Nếu vụ trụ hiện đang và luôn luôn nở ra, thì có thể kết luật một cách logic rằng, quay ngược lại mà nhìn thời gian, người ta sẽ thấy vũ trụ càng ngày càng nhỏ hơn cho tới khi toàn bộ vũ trụ chỉ còn là một điểm cực kỳ đậm đặc, cực kỳ nhỏ nhưng lại có thể sinh ra toàn bộ vật chất và năng lượng đang tồn tại hiện nay.
Thời khắc mà đơn điểm này sinh ra vũ trụ mà chúng ta biết hiện nay được gọi là Vụ Nổ Lớn – Big Bang (thuật ngữ được nhà thiên văn học Fred Hoyle giới thiệu nhằm chế giễu ý tưởng của Lemaitre). Tác giả Mark Midbon, trong một bài báo xuất bản trên Tạp chí Thịnh vượng chung (Commonweal) năm 2000, đã hùng hồn nhắc lại sự kiện này với cái tên “cái ngày mà không có ngày hôm qua,” một thuật ngữ mà hẳn Lemaitre sẽ ưng ý.
Georges Lemaitre thuyết big bang, tôn giáo và khoa học
Minh họa Big Bang (Hình ảnh: Youtube)
ADVERTISEMENT
Từ thuyết Big Bang có thể kết luận một cách logic rằng có một thời điểm mà lúc đó thời gian bắt đầu và không gian xuất hiện. Điều diễn ra và tồn tại “trước” thời điểm đó thì người trần mắt thịt chúng ta không thể biết được (dùng từ “trước” trong ngoặc kép là bởi thời gian không thực sự có bất kỳ ý nghĩa gì cho đến khi Big Bang xảy ra).
Có một sự tương hợp rõ ràng giữa thuyết Big Bang và những dòng mở đầu trong cuốn Genesis – Chúa sáng tạo thế giới:
“Ban đầu Chúa tạo ra các thiên đường và trái đất. Lúc đó trái đất không có hình dạng và trống rỗng, bóng tối phủ khắp mọi bề, và Tinh thần của Chúa bay trên mặt nước. Và Chúa nói, ‘Phải có ánh sáng.’ và ánh sáng xuất hiện. Chúa thấy ánh sáng thật tốt, và Ngài phân tách ánh sáng khỏi bóng tối.”
Có rất ít những tín đồ Cơ đốc giáo hôm nay, bao gồm cả tôi, tin vào nghĩa đen của Kinh thánh, và đặc biệt là Kinh Cựu ước cũng vậy. Hầu hết các con chiên Cơ đốc hôm nay, bao gồm cả tôi, tin rằng cả Kinh Cựu ước và Kinh Tân ước chứa đựng những thông điệp được tạo cảm hứng một cách thần thánh thông qua ngòi bút của những sứ giả người trần mắt thịt, và ý nghĩa của chúng sẽ dần sáng tỏ khi con người – một sinh vật có tri giác – tiếp tục trưởng thành hơn.
Dưới góc nhìn ấy, thì câu chuyện trong Chúa sáng tạo thế giới dường như là tương hợp với lý thuyết của Big Bang.

Chủ nghĩa hoài nghi và bằng chứng

Georges Lemaitre thuyết big bang, tôn giáo và khoa học
Lemaitre và Einstein (Ảnh: ĐH Leuven)
Einstein ban đầu lãnh đạm với công trình của Lemaitre. Theo lời vị tu sĩ này, Einsein nói với ông ấy rằng “Vos calculs sont corrects, mais votre physique est abominable” (tạm dịch: “Những tính toán của ông là chính xác, nhưng [hiểu biết] vật lý của ông thì rất tệ”) sau khi vị tu sĩ cho xuất bản tác phẩm của mình. Mô hình một vũ-trụ-ổn-định đại diện cho những hiểu biết thông thường và phổ biến của thời đại lúc bấy giờ, và Eistein – giống như bất kỳ các khoa học gia hợp cách nào khác vào lúc đó – hoài nghi những lý thuyết khác.
Hãy chú ý tới việc sử dụng từ “hoài nghi” hơn là từ “lãnh đạm” hoặc từ “phủ nhận.” Những khoa học gia hợp cách luôn sẵn lòng lắng nghe các lý thuyết khác và sẵn sàng thay đổi ý kiến của họ nếu có đủ chứng cứ. Đối lập với những gì mà những người nhiệt thành với biến đổi khí hậu muốn chúng ta tin tưởng, khoa học không bao giờ là ổn đinh.
Einstein cũng hiểu điều đó như bất kỳ ai khác. Khi đề xuất thuyết tương đối rộng, ông đề cử ba thí nghiệm khả thi để kiểm chứng hoặc phủ nhận lý thuyết của mình. Một trong số đó là thí nghiệm liên quan tới những sự nhiễu loạn nhỏ trong quỹ đạo của Sao Thủy và Einstein có thể tự mình kiểm chứng bằng các thiết bị thời đó. Những sự nhiễu loạn quan sát được tuân theo những gì thuyết tương đối rộng dự đoán, là điều mà mô hình thiếu chính xác hơn của Newton không thể làm được.
Hai thí nghiệm khác mà Einstein đề xuất không thể thực hiện được tới mức độ chính xác trong thời đại của ông. Tuy nhiên, các nhà khoa học tài ba đã có thể làm được cả hai thí nghiệm bằng các công nghệ mới sau khi Einstein ra đi.
Liệu sự đúng đắn của thuyết tương đối rộng và thuyết tương đối hẹp có đồng nghĩa với việc Newton đã sai không? Liệu câu chuyện đáng ngờ về quả táo rơi trúng đầu ông ấy là vô nghĩa? Không. Đó không phải là cách mà khoa học phát triển. Einstein không hề thay thế công trình của Newton – ông ấy chỉ cải thiện nó mà thôi.
Thú vị là, Einstein không phải là người duy nhất gặp vấn đề với lý thuyết của Lemaitre. Vào thời điểm đó, Arthur Eddington, giám đốc của đài quan sát thiên văn tại Trường Đại học Cambridge nơi Lemaitre đã học toán và khoa học, đã viết rằng ông thấy “thật sai lầm” về ý tưởng không gian và thời gian được tạo ra vào cái ngày mà Midbon gọi là cái ngày không có ngày hôm qua ấy.
Thời gian đã mỉm cười với Lemaitre. Edwin Hubble đã chứng tỏ tiền đề cơ bản của vị tu sĩ là đúng đắn: vũ trụ đang nở ra, và vì vậy, nó chắc chắn phải xuất phát từ một đơn điểm.
Năm 1998, nghiên cứu của các nhà khoa học Adam Riess, Saul Perlmutter và Brian Schmidt, những người giành giải Nobel năm 2011 về Vật lý học cho công trình của họ, đã chứng minh rằng tốc độ của sự giãn nở là tăng tăng đều, có nghĩa rằng Big Bang – và sự sáng tạo ra không gian và thời gian – là sự kiện chỉ diễn ra một lần.
Đối với tôi, những gì diễn ra chỉ một lần trong vĩnh hằng dường như vượt quá tầm hiểu biết của con người và, vì vậy, một cách tất yếu, là bằng chứng cho sự tồn tại của một quyền năng cao cấp hơn. Nói chung, Lemaitre, Hubble, Riess, Perlmutter và Schmidt đã cùng biểu đạt rằng khoa học và tôn giáo là hoà quyện vào nhau. Và chúng ta sẽ trở thành những cá nhân tốt đẹp hơn rất nhiều nếu hiểu được sự thật cơ bản đó.
Tác giả: Richard Trzupek là một nhà hóa học và nhà tư vấn về môi trường, kiêm nhà phân tích tại Viện Hearland. Ông cũng là tác giả của cuốn sách “Các nhà quản lý nổi loạn: EPA đang phá hủy nền công nghiệp Mỹ như thế nào.”
Theo ET,
Quốc Hùng biên dịch

Pythagore và thuyết luân hồi

Pythagore và thuyết luân hồi NSGN - Quan niệm tái sinh, luân hồi (saṃsāra) của sinh mạng không phải chỉ riêng có trong tư tưởng Phệ...