2) Phương pháp nghiên cứu
a) Kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháp logic :
Đây là phương pháp chủ động nhất, quan trọng nhất và phương pháp lịch sử giúp chúng ta nhận thức về mặt lịch sử quá trình tư duy của Hồ Chí Minh, còn phương pháp logic sẽ giúp chúng ta tìm ra cốt lõi và hướng phát triển , tư duy của Hồ Chí Minh đạt tới.
b) Kết hợp với các phương pháp liên nghành khác :
Kết hợp với tổng hợp, thống kê, phương pháp phân tích, so sánh,... kể cả sơ đồ hóa, mô hình hóa.
III) Ý nghĩa học tập tư tưởng Hồ Chí Minh (Học tài liệu)
--------------------------------------------------------------------------------------
Chương I: Nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh.
I)- Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
1) - Cơ sở khách quan :
1.1) Bối cảnh lịch sử ra đời tư tưởng Hồ Chí Minh
a) Bối cảnh lịch sử Việt Nam TK XIX sang đầu XX
- Trước năm 1858, Việt Nam là 1 quốc gia phong kiến, độc lập với nền nông nghiệp lạc hậu, đã thế nhà Nguyễn lại cho thi hành chính sách đối nội và đối ngoại vừa phản động vừa sai lầm, nên càng làm cho đất nước suy yếu.
- Năm 1858, đế quốc Pháp xâm lước Việt Nam, nhà Nguyễn hèn nhát đầu hàng Pháp rồi cấu kết với chúng bóc lột nhân dân ta, nhưng với lòng yêu nước, nhân dân ta đã có hàng trăm phong trào kháng Pháp liên tục nổ ra. Nhưng tất cả đều bị thất bại. Chính sự thất bại này đã thôi thúc Hồ Chí Minh sang phương Tây tìm đường cứu nước.
- Sau khi đặt được bộ máy cai trị, đế quốc Pháp đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa, biến Việt Nam thành 1 nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến, sự biến đổi này đã làm thay đổi cơ cấu xã hội :
- Giai cấp ở Việt Nam, đó là đã làm xuất hiện giai cấp tư sản dân tộc (là người Việt Nam), nhất là sự xuất hiện của giai cấp công nhân. Đây là giai cấp sẽ lãnh đạo cách mạng Việt Nam thắng lợi sau này.
b) Về thời đại:
- Từ nữa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, do việc các nước đế quốc xâm lược và nô dịch hàng trăm dân tộc thuộc địa đã làm xuất hiện về dân tộc thuộc địa và cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa cũng nổ ra mạnh mẽ.
- Thắng lợi cuộc cách mạng tháng 10 Nga (1917), đây là thắng lợi lần đầu tiên của cách mạng vô sản thế giới, nó đã đưa lại chính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động, để từ đó họ có điều kiện xóa sổ xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa để giải phóng mình. Chính ý nghĩa đó về mặt thực tiễn sau khi nghiên cứu Cách mạng tháng 10 Nga(1917) , Hồ Chí Minh xác định giải phóng dân tộc theo cách mạng vô sản.
- Tháng 3/1919, quốc tế cộng sản III được lập thành, dưới sự lãnh đạo và giúp đỡ tích cực của quốc tế cộng sản III, phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ngày càng mạnh mẽ, lúc bấy giờ LêNin đã xây dựng được luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Chính luận cương này đã giúp cho Hồ Chí Minh hoàn toàn sáng tỏ để từ đó lựa chọn cách mạng vô sản để giải phóng dân tộc.
c) Về quê hương và gia đình:
* Về quê hương : Nghệ An được coi là vùng đất "địa linh nhân kiệt"
Đây là nơi đã sản sinh cho dân tộc ta nhiều vị anh hùng có công lao to lớn với nước, với dân, đồng thời đây cũng là mảnh đất giàu truyền thống hiếu học và chống giặc ngoại xâm.
* Về gia đình:
- Về thân phụ : Là cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, ông là 1 nhà nho nghèo, giàu lòng yêu nước và thương dân (Học tài liệu)
* Về người mẹ : Là bà Hoàng Thị Loan, là 1 người phụ nữ Việt Nam mẫu mực, sống nhân hậu, hòa đồng và sẵn lòng giúp đỡ mọi người (Học tài liệu)
Tóm lại với "nếp đất, nếp nhà" như vậy, ảnh hưởng sâu sắc đến việc hoàn thành nhân cách đạo đức, lòng yêu nước thương dân sâu nặng cũng như chí hướng hoài bão cao đẹp, vì nước, vì dân của Hồ Chí Minh.
1.2) Tiền đề tư tưởng và lý luận :
1) Giá trị tư tưởng và văn hóa truyền thống của dân tộc
- Qua đấu tranh dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã tạo lập nên những truyền thống vô cùng quý báu : chủ nghĩa yêu nước, ý thức chủ quyền quốc gia, ý chí tự lực, tự cường, đấu tranh bất khuất để dựng nước và giữ nước.
- Tinh thần nhân nghĩa, tương thân tương ái, "lá lành đùm lá rách". Dân tộc Việt Nam có truyền thống lạc quan, yêu đời nên họ thường động viên nhau: "Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo".
- Dân tộc Việt Nam cũng là 1 dân tộc cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo trong chiến đấu, lao động, học tập. Đồng thời cũng là 1 dân tộc ham học hỏi và biết đón nhận tinh hoa văn hóa của nhân loại tạo nên cơ sở giữ vững bản sắc văn hóa của dân tộc.
Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2019
Lão Tử: Bậc thượng thiện giống như nước, làm mà không tranh giành
Lão Tử: Bậc thượng thiện giống như nước, làm mà không tranh giành
- An Hòa
- •
- Thứ Tư, 27/09/2017 • 6.6k Lượt Xem
Lão Tử đàm luận rất nhiều về nước. Ông cho rằng, người thiện vào bậc cao thì giống như nước. Nước khéo làm lợi cho vạn vật mà không tranh với vật nào, ở chỗ mọi người không thích (chỗ thấp), cho nên nước là gần với Đạo.

Nước là yếu tố chính cho sự sinh trưởng phát triển của vạn vật. Một người không ăn cơm trong nhiều ngày vẫn có thể sống được, nhưng một ngày không có nước sẽ thấy rất khó khăn để sinh tồn.
Nước là vô tư, vô ngã, không sợ hãi. Nó vì vạn vật, vì nhân loại mà lưu chuyển không phân biệt ngày đêm, giúp cho sinh mệnh khỏe mạnh, sinh trưởng.
Vạn vật trong vũ trụ nếu không có nước cung cấp sẽ bị khô hạn mà chết. Cho nên những câu nói: “Đại Đạo tự thủy” (đại đạo như nước), ‘Thượng thiện nhược thủy“ (bậc thượng thiện như nước), “Pháp tỷ như nước” (có thể rửa sạch vết bẩn nhơ nhớp) được Lão Tử đàm đạo nhiều nhất trong các tác phẩm của ông.
Qua các tác phẩm của Lão Tử, người đọc có thể thấy ông nhiều lần ví người có đạo đức cao thượng là giống như đặc tính của nước. Dưới đây xin trích dẫn một số trong ấy:
1. Làm lợi vạn vật mà không tranh giành
Lão Tử nói: “Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật, phù duy bất tranh, cố vô vưu”, ý nói nước là thiện nhất, là tốt nhất, nước đem lại lợi ích cho muôn vật mà lại không tranh không giành lợi ích.
Đặc tính của nước là chân thành giúp đỡ vạn vật mà không tranh giành danh lợi, không tranh giành cao thấp, cũng không tự cho mình là hiểu biết, lại không khoe khoang bản thân. Chính là bởi vì không tranh giành với vạn vật cho nên nó không có oán hận lo âu.
Tương tự với “Thượng thiện nhược thủy”, Lão Tử giảng: “Thánh nhân chi đạo vi nhi bất tranh. Phu duy bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh.” tức là, bậc thánh nhân chỉ làm việc chứ không tranh. Vì không tranh giành, cho nên thiên hạ không ai tranh giành với mình.
2. Vô ngã, vì người mà không vì mình

Đại đạo rộng lớn, nước không có chỗ nào không chảy đến. Vạn vật đều dựa vào nước để được ẩm ướt mà sinh tồn. Nước lại không chối từ trách nhiệm, đem mình kính dâng cho tự nhiên mà không đòi hỏi bất cứ sự đền đáp nào.
ADVERTISEMENT
Bậc thánh nhân cũng lại như thế, họ làm vì người mà không vì mình. Nhưng người không tranh giành, ngược lại, lại thắng được người khác là bởi vì mỗi việc làm của họ đều là phù hợp với bản tính con người, lợi người chứ không hại người.
3. Hạ mình ở chỗ thấp
Hạ mình ở chỗ thấp là có thể cùng một chỗ với quảng đại quần chúng, hấp thụ càng nhiều dinh dưỡng đến để làm phong phú bản thân.
Cổ ngữ có câu: “Thiện dụng nhân giả vi chi hạ” tức là khéo dùng người là hạ mình ở dưới người. Tục ngữ cũng có câu: “Nhân vãng cao xử ba, thủy hướng đê xử lưu”, ý nói con người luôn hướng đến chỗ cao để trèo, còn nước lại chảy đến chỗ trũng, chỗ thấp. Trong sự tranh giành của vạn vật, nước một mình lặng lẽ chảy đến chỗ thấp mà bao dung hết thảy.
Bởi vậy, Lão Tử cũng giảng: “Xử chúng nhân chi sở ác, cố kỉ vu đạo”, ý nói nước không tranh giành lợi với vạn vật, nằm ở chỗ mọi người không chú ý, cho nên nước là gần với Đạo nhất.
4. Mềm mại mà không yếu nhược

Trong cuốn “Đạo Đức Kinh”, Lão Tử đã viết: “Kiên cường xử hạ, nhu nhược xử thượng”, ý tứ chính là nói rằng cứng cỏi thì chết, mềm mại mới sống, cứng cỏi thì kém, mềm mại mới hơn.
Ông cũng giảng, thiên hạ không có gì mềm mại bằng nước, mà cũng không có gì có sức công phá hơn được nước… Chẳng chi hơn nó, chẳng chi thay thế được nó. Mềm thắng cứng, yếu thắng mạnh, thiên hạ ai cũng biết thế, mà chẳng ai làm được.
Trong sách “Bão phác tử. Ngoại thiên”của tác giả Cát Hồng đã viết: “Kim dĩ cương chiết, thủy dĩ nhu toàn”, ý nói rằng kim loại vì cứng mà gãy, nước nhờ mềm mại mà vẹn toàn.
5. Hăm hở tiến lên
Nước ngày đêm chảy xiết, anh dũng mà tiến về phía trước, chảy qua rót đầy những chỗ trũng, hố sâu.
Khi gặp núi ngăn trở, nước tự biết chuyển mình chảy tiếp. Khi gặp vật ngăn cách, nước lại tự biết đảo chiều dòng chảy mà không chịu khuất phục.
Nước không sợ gian nan hiểm trở, không sợ khúc chiết, hăm hở tiến lên không ngừng.
6. Bao dung, vị tha

Nước được xưng là có lòng bao dung vĩ đại, bất luận là ân oán, đúng sai, vô luận là giọt nước ở sông lớn hay dòng suối nhỏ, đều có thể giống như Lâm Tắc Từ (tướng nhà Thanh) đã nói: “Hải nạp bách xuyên, hữu dung nãi đại, bích lập thiên nhận, vô dục tắc cương“ (ý nói biển lớn dung nạp trăm nghìn dòng sông, tấm lòng bao dung mới có thể trở nên vĩ đại, vách núi nghìn trượng sừng sững, không mang dục vọng thì có thể giữ mình cương trực).
Nước không cố chấp, không cao ngạo, tự cao tự đại. Nước có thể lật thuyền mà cũng có thể nâng thuyền, nước có trăm điều thiện mà không một điều dối lừa.
Lão Tử cũng nhấn mạnh rằng, một người nếu có thể khéo lựa chỗ khiêm nhường giống như nước, tâm tính bao dung vị tha giống như nước, nói chuyện có tín giống như quy luật lên xuống của thủy triều, đối nhân xử thế hợp tình hợp lý giống như sự công bằng của nước, làm việc dung hòa giống như nước, nắm bắt cơ hội giống như nước tùy thời mà chuyển động, không cùng người khác tranh giành thì người ấy vĩnh viễn tránh được tai họa mà gặp được bình an.
An Hòa (dịch và t/h)
Năng lượng từ trái tim: Trường điện từ kết nối cảm xúc và con người
Năng lượng từ trái tim: Trường điện từ kết nối cảm xúc và con người
- Thiện Tâm
- •
- Thứ Tư, 30/05/2018 • 11.1k Lượt Xem
Viện nghiên cứu HeartMath (Institute of HeartMath – IHM) cho biết trái tim có thể tạo ra trường điện từ rất mạnh. Trường điện từ này thấm vào mọi tế bào và có thể hoạt động như một tín hiệu đồng bộ cho cơ thể, tương tự như thông tin mang bởi sóng vô tuyến. Đặc biệt, nghiên cứu cũng cho thấy năng lượng này không chỉ được truyền đến não bộ mà còn có thể được người khác phát hiện trong một phạm vi giao tiếp nhất định. Dữ liệu cũng cho thấy các tế bào được nghiên cứu trong ống nghiệm cũng phản ứng với trường điện từ sinh học của trái tim.

Nghiên cứu của IMH cho thấy trái tim tạo ra trường điện từ lớn nhất trong cơ thể. Điện trường được đo bằng điện tâm đồ (ECG) có biên độ lớn hơn khoảng 60 lần so với sóng não được ghi lại trong điện não đồ (EEG). Thành phần từ trường của tim, mạnh hơn khoảng 5.000 lần so với bộ não tạo ra, không bị cản trở bởi các mô và có thể đo được ở cách cơ thể vài mét.
Trái tim giữ vai trò quyết định cảm xúc chứ không phải não bộ
Tại IHM, Tiến sỹ McCraty và cộng sự đã tích lũy các bằng chứng thuyết phục cho thấy nhịp điệu của tim (rhythms of the heart) – được định nghĩa là biến thiên nhịp tim (heart rate variability- HRV) – có rất nhiều tác dụng chứ không chỉ giữ cho máu lưu thông trong cơ thể. HRV có xu hướng không ổn định và rối loạn trong lúc con người cảm thấy căng thẳng, tạo ra sự truyền dẫn tín hiệu từ tim đến não làm ức chế khả năng suy nghĩ tỉnh táo và đưa ra quyết định hiệu quả của con người. Tuy nhiên, trong trạng thái cảm xúc tích cực, nhịp điệu của trái tim là một dạng sóng mượt mà và hài hòa (coherence patterns).
Tiến sỹ Y khoa Karl Pribram, người được coi là cha đẻ của khoa học thần kinh nhận thức hiện đại, đã giới thiệu ý tưởng rằng bộ não người ở cấp độ chức năng chỉ là một hệ thống nhận biết và lưu trữ các mẫu trải nghiệm nhận thức và trải nghiệm cảm xúc (cognitive and emotional experiences). Priham cho rằng, vì trái tim là nguồn gốc chính của mọi dạng sóng (patterns) có nhịp điệu (rhythmic) trong cơ thể, trái tim giữ vai trò chính trong trải nghiệm cảm xúc của mỗi chúng ta.
Tin tưởng vào những phát hiện mang tính bước ngoặt của Karl Pribram, tiến sĩ McCraty phát biểu: “Lý thuyết vững chắc từ một nhà thần kinh học học hàng đầu thế giới cho thấy rằng trái tim không chỉ là một phép ẩn dụ trong trải nghiệm cảm xúc của chúng ta. Não bộ diễn giải các dạng sóng trong trái tim, và chúng tôi (tại IHM) đã chứng minh rằng những cảm xúc khác nhau được phản ánh trong các dạng sóng khác nhau trong nhịp điệu của tim (patterns of heart rhythm).”
Một nhà thần kinh học hàng đầu cũng hỗ trợ cho lý thuyết này. Tiến sỹ Y khoa J. Andrew Armor, người có các bài viết trong các ấn phẩm học thuật cao cấp, nói rằng trái tim về cơ bản có bộ não nội tại của chính nó. Ủng hộ quan điểm trên, Tiến sỹ McCraty cho biết: “Hiện nay chúng ta biết rằng trái tim gửi nhiều thông tin đến não hơn so với bất kỳ thứ gì khác”.

ADVERTISEMENT
Các nhà nghiên cứu tại IHM đã tiếp tục phát triển các kỹ thuật để chuyển các dạng sóng HRV không ổn định sang các dạng sóng hài hòa (coherence) dẫn đến trạng thái tích cực hơn. Họ đã chứng minh lâm sàng rằng các nhịp điệu hài hòa của tim sẽ cải thiện tổng thể các chức năng nhận thức, ra quyết định và ổn định tình cảm của con người.
IHM cũng phát hiện rằng dạng sóng thể hiện sự biến thiên nhịp đập của tim sẽ biến đổi một cách rõ rệt khi một người trải nghiệm các cảm xúc khác nhau. Những thay đổi trong trường điện từ, áp suất âm thanh, huyết áp được tạo ra bởi sự biến đổi nhịp điệu của tim được cảm nhận bởi mọi tế bào trong cơ thể, tiếp tục hỗ trợ vai trò như một tín hiệu đồng bộ cơ thể của trái tim.

Trái tim là “Tổng đài” kết nối tất cả chúng ta?
Nghiên cứu tiếp theo của IHM về trực giác và tim có thể nâng cao hơn nữa tình trạng của tim. “Những nghiên cứu này chỉ ra rằng tim đang phản ứng với mọi thứ ngay cả trước khi bộ não phản ứng”, tiến sĩ McCraty nói. Khái niệm trực giác của trái tim không chỉ là một lý thuyết “vớ vẩn”; nó được hỗ trợ tốt bởi các dữ liệu sinh lý được thu thập một cách nghiêm ngặt từ một phân tích lớn bao gồm 20 nghiên cứu.
Tuy nhiên, ngay cả “khả năng” này của trái tim có thể cũng chỉ là phần nổi của tảng băng trôi. Lý thuyết cho rằng trái tim có thể giao tiếp với nhau và tập hợp sức mạnh của con người đang được quan tâm một cách nghiêm túc. “Trái tim không chỉ là một thực thể vật lý” Tiến sỹ McCraty cho biết. “Chúng ta cũng có trái tim tràn đầy năng lượng. Chúng tôi gợi ý rằng trái tim là một tổng đài thông tin cơ bản.” Con người thực sự có thể được kết nối với nhau theo cách tương tự như cách các điện thoại di động trao đổi thông tin với nhau.

Đây là chủ đề nhận được nhà báo Ed Decker quan tâm đặc biệt do một trải nghiệm ông đã có nhiều năm trước. Ông từng cảm thấy một làn sóng lo lắng dâng lên vào chính xác thời điểm khi mẹ ông đột quỵ cách đó khoảng 4.000km. Tiến sỹ McCraty giải thích với Ed Decker rằng đó không phải là một trùng hợp ngẫu nhiên mà đó là hiện tượng thu nhận tín hiệu: “Rất nhiều nghiên cứu cho thấy những gì chúng ta hòa hợp là những thứ chúng ta có liên kết hoặc kết nối, là những thứ liên quan hoặc quan trọng với chúng ta về mặt cảm xúc. Sự liên kết này điều chỉnh (tune) chúng ta đến một tần số cụ thể. Chúng ta tạo ra các tần số cộng hưởng để chọn ra những làn sóng.”
Trong thực tế, kết nối này giữa con người hoạt động như một thiết bị phát vô tuyến và Wifi, và những tín hiệu này ở xung quanh chúng ta trong không gian vào mọi thời điểm. Với trường hợp Ed Decker, Tiến sỹ McCraty nói rằng, ông đã được điều chỉnh đặc biệt để hợp với tín hiệu của mẹ ông.

Tiến sỹ McCraty nói thêm rằng từ trường của Trái Đất có thể hỗ trợ sự truyền tín hiệu giữa mọi người. “Từ trường của trái đất là một làn sóng mang thông tin liên quan đến sinh học,” ông nói. “Đây là thứ kết nối tất cả chúng ta. Nó cũng là một phần của trực giác: làm thế nào một người mẹ biết con trai hay con gái của bà đang đau khổ ở phía bên kia hành tinh. Có thứ gì đã truyền đạt thông tin đó, điều này dường như thường xảy ra gần như ngay lập tức. Theo giả thuyết của tôi, đó chính xác là từ trường của trái đất, và có một số lượng lớn các bằng chứng ủng hộ điều này.”
Video về trường điện từ sinh lý được tạo ra bởi trái tim:
Theo rewireme.com và heartmath.org
Thiện Tâm tổng hợp
Thiện Tâm tổng hợp
Phát hiện chấn động: 2 thí nghiệm đồng thời xác nhận chiều không gian thứ 4
Phát hiện chấn động: 2 thí nghiệm đồng thời xác nhận chiều không gian thứ 4
- Thiện Tâm
- •
- Thứ Hai, 17/09/2018 • 4.7k Lượt Xem
Theo hiểu biết hiện tại, con người chúng ta chỉ có thể trải nghiệm thế giới này theo ba chiều không gian (3D) và một chiều thời gian. Nhưng đầu năm 2018, các nhà khoa học tại 2 phòng thí nghiệm vật lý độc lập đã đồng thời xác nhận sự tồn tại của chiều không gian thứ 4.
2 nhóm các nhà vật lý đã tiến hành thí nghiệm trên hai hệ thống 2D đặc biệt, một với các nguyên tử được làm siêu lạnh và một với các hạt ánh sáng. Cả 2 thí nghiệm cho ra 2 kết quả tưởng chừng khác nhau nhưng lại bổ trợ cho nhau về việc xuất hiện “hiệu ứng lượng tử Hall” trong không gian 4D.
2 thí nghiệm này có ý nghĩa quan trọng đối với khoa học cơ bản, hoặc thậm chí cho phép các kỹ sư tiếp cận với vật lý học đối với các chiều không gian cao hơn từ thế giới 3D của chúng ta hiện nay. Kết quả của nghiên cứu này đã được đăng trên tạp chí Nature danh tiếng ngày 3/1/2018.
Hiệu ứng Hall cổ điển và hiệu ứng Hall lượng tử là gì?
Hiệu ứng Hall cổ điển là một hiệu ứng vật lý trong đó người ta áp dụng từ trường vuông góc lên một bản làm bằng kim loại hay chất bán dẫn hay chất dẫn điện nói chung (thanh Hall) đang có dòng điện chạy qua. Lúc đó người ta nhận được hiệu điện thế (hiệu thế Hall) sinh ra tại hai mặt đối diện của thanh Hall. Tỷ số giữa hiệu thế Hall và dòng điện chạy qua thanh Hall gọi là điện trở Hall, đặc trưng cho vật liệu làm nên thanh Hall. Hiệu ứng này được khám phá bởi Edwin Herbert Hall vào năm 1879.
Hiệu ứng Hall cổ điển (ảnh: Youtube)
Hiệu ứng Hall lượng tử (Quantum Hall Effect – QHE) từng là đề tài của một số giải Nobel (giải Nobel vật lý năm 1985 với hiệu ứng Hall lượng tử số nguyên – Integer Quantum Hall Effect, giải Nobel vật lý năm 1998 với hiệu ứng Hall lượng tử phân số – Fractional Quantum Hall Effect).
Hiệu ứng Hall lượng tử xảy ra ở những lớp dẫn điện rất mỏng về cơ bản có bản chất 2D. Khi những vật liệu 2D (ví dụ các tấm graphene) được làm lạnh xuống gần không độ tuyệt đối và chịu một từ trường mạnh, sự dẫn điện của nó bị lượng tử hóa và chỉ có thể biến thiên theo những bước rời rạc. Hiệu ứng Hall lượng tử là một tính chất chung của các chất dẫn điện 2D và có thể nhìn thấy ở nhiều vật liệu đa dạng – thậm chí khi các mẩu chất bị mất trật tự.
Độ dẫn điện Hall (độ dẫn đo thẳng góc với dòng điện-transverse conductivity) bị gián đoạn lượng tử hoá theo đơn vị e2/h (màu đỏ). Đường sóng phía dưới là độ trở dọc (longitudinal resistivity) (màu xanh). (ảnh: NobelPrize.Org/tiasang.com.vn)
ADVERTISEMENT
Hiệu ứng Hall lượng tử xảy ra với không gian bốn chiều
Trong khi hiệu ứng Hall lượng tử không xảy ra ở các vật liệu 3D, thì vào năm 2001, hai nhà vật lý Shou-Cheng Zhang, Jiangping Hu tại Đại học Standford, Hoa Kỳ và Đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh, Trung Quốc đã dự đoán hiệu ứng này có thể xảy ra trong các hệ 4D. Nhưng hiện nay, con người cũng như các thiết bị khoa học và kỹ thuật của con người mới chỉ xác định được không gian ba chiều, nên ý tưởng của hai nhà khoa học này vẫn chỉ là lý thuyết… mãi cho đến bây giờ.
Giáo sư Mikael Rechtsman tại Đại học quốc gia Pennsylvania, Hoa Kỳ và các đồng sự đã xây dựng hệ hiệu ứng Hall lượng tử 4D từ một ma trận 2D của các bộ dẫn sóng quang học. Bộ dẫn sóng là những ống không gian kín được khắc qua một miếng thủy tinh bằng một laser mạnh (xem hình dưới). Bằng cách thận trọng bố trí các bộ dẫn sóng thành ma trận, nhóm đã tạo ra “các chiều tổng hợp” bổ sung giả lập một vật liệu 4D.
Trong hệ của họ, ánh sáng giữ vai trò của dòng điện và nhóm các nhà khoa học đã chứng minh được rằng sự truyền ánh sáng qua mạng giống hệt như trong một hệ hiệu ứng Hall lượng tử 4D.
Ma trận các ống dẫn sóng quang học mô phỏng hiệu ứng lượng tử Hall 4D (ảnh: physicsworld.com)
Trong khi đó, tại Viện Quang học Lượng tử Max Planck ở Munich, Đức, Giáo sư Immanuel Bloch và các đồng sự tạo ra các chiều tổng hợp giống như vậy bằng cách sử dụng một ma trận 2D của các nguyên tử cực lạnh bị bẫy bằng các chùm laser giao nhau. Nhóm của Bloch bắt đầu với một ma trận vuông đồng đều của các nguyên tử. Sau đó họ bật các chùm laser bổ sung trong mặt phẳng ma trận, chúng nằm lệch ngoài trục đối xứng của ma trận. Cách này tạo ra một siêu mạng phức tạp trong đó các nguyên tử chuyển động như được mô tả bởi hiệu ứng Hall lượng tử 4 chiều.
Mô phỏng hệ thống thí nghiệm của Immanuel Bloch về hiệu ứng lượng tử Hall 4D (ảnh: physicsworld.com)
“Đối với vật lý [hiện tại], chúng ta không có hệ thống không gian 4D, nhưng chúng ta có thể tiếp cập với các vấn đề vật lý về hiệu ứng lượng tử Hall 4D thông qua hệ thống ít chiều không gian hơn vì hệ thống nhiều chiều không gian hơn bị mã hóa trong các kiến trúc phức tạp”, Giáo sư Mikael Rechtsman, Đại học Pensnavenia, tác giả của một trong 2 báo cáo trả lời phỏng vấn cho hay.
“Tôi nghĩ rằng hai thí nghiệm đẹp đẽ này bổ sung cho nhau,” Michael Lohse từ Đại học Ludwig-Maximilians, Đức nói về phát hiện mới này. Theo nghĩa đơn giản nhất, nhóm thứ hai của các nhà khoa học đang xem xét hiệu ứng 4D trên bề mặt lớn của một hệ thống vật lý, trong khi nhóm đầu tiên đang xem xét các hiệu ứng trên các cạnh của cùng một hệ thống.
Về ý nghĩa của nghiên cứu này, Lohse hy vọng hệ thống của ông thậm chí có thể hỗ trợ việc nghiên cứu các vấn đề vật lý rộng hơn nữa, chẳng hạn như lực hấp dẫn lượng tử và bán kim loại Weyl. Trong khi đó, Rechtsman nghĩ rằng hệ thống của ông có thể giúp tạo ra các thiết bị quang tử khác tận dụng lợi thế của nhiều chiều không gian hơn, hoặc có thể các nhà khoa học khác sẽ tìm thấy các hiệu ứng tương tự trong loại vật liệu khác:
“Chúng ta có thể tiến đến lý thuyết vật lý mới trong các chiều không gian cao hơn và sau đó thiết kế các thiết bị tận dụng lợi thế vật lý của chiều không gian cao hơn trong các chiều không gian thấp hơn.” Rechtsman nói. “Có một câu hỏi khác về việc liệu các vật liệu rắn với các phần tử đơn vị phức tạp thật sự có các chiều không gian ẩn giấu này hay không, và liệu lý thuyết vật lý [hiện nay] của chúng ta có thể được lý giải trong lý thuyết vật lý có chiều không gian cao hơn, điều trước đây không thể tiếp cận được. Liệu điều này có thể cho chúng ta hiểu biết mới về các pha của vật chất với các thù hình mới?”
Thiện Tâm tổng hợp
5 thí nghiệm khoa học chứng minh suy nghĩ của bạn tác động lên vật chất
5 thí nghiệm khoa học chứng minh suy nghĩ của bạn tác động lên vật chất
- Thiện Tâm
- •
- Thứ Bảy, 18/02/2017 • 65.8k Lượt Xem
Càng ngày chúng ta càng biết tới nhiều phát hiện và nghiên cứu khoa học cho thấy ý thức (suy nghĩ, dự định, lời cầu nguyện… ) có thể trực tiếp ảnh hưởng đến thế giới vật chất vật lý.
“Ngày mà khoa học bắt đầu nghiên cứu các hiện tượng phi vật chất, thành tựu đạt được trong một thập kỷ sẽ lớn hơn nhiều thế kỷ trước đó cộng lại. Để hiểu được bản chất thật sự của vũ trụ, người ta phải suy nghĩ dựa trên những yếu tố như năng lượng, tần số và sự rung động,” Nikola Tesla, nhà phát minh vĩ đại đầu thế kỷ 20, người chịu ảnh hưởng bởi Ấn độ giáo và triết lý Vệ đà, đã từng phát biểu như vậy.
Từ lâu, các nhà vật lý đã khám phá mối quan hệ giữa ý thức con người và cấu trúc vật chất. Trước đó, người ta tin rằng vũ trụ vật chất theo giải thích vật lý Newton (vật lý cổ điển) là nền tảng của thực tại vật chất vật lý. Tất cả điều này đã thay đổi khi các nhà khoa học bắt đầu phát hiện rằng mọi thứ trong vũ trụ này được tạo ra bởi năng lượng.
Theo các nhà vật lý lượng tử, các nguyên tử vật chất được tạo ra bởi đám xoáy năng lượng quay và rung động vĩnh viễn. Vật chất ở mức bé nhất có thể quan sát được là năng lượng, và ý thức con người kết nối với chúng, ý thức con người có thể ảnh hưởng đến hành vi, và thậm chí là cấu trúc lại chúng.
Nhiều nhà nghiên cứu trong đó có Albert Einstein, Max Planck và Werner Heisenberg đã phát hiện ra vũ trụ không là một tập hợp của các bộ phận vật lý, mà là từ “rối lượng tử” (entanglement) của các sóng năng lượng phi vật chất.
Dưới đây là 5 thí nghiệm khác được tiến hành gần đây hơn:
1. Thí nghiệm khe đôi lượng tử và hiệu ứng lượng tử Zeno
Thí nghiệm khe đôi lượng tử là một ví dụ tuyệt vời chứng minh mối quan hệ giữa ý thức và vật chất.
Mô tả thí nghiệm: Nếu một người ‘quan sát’ một hạ nguyên tử hoặc một photon đi qua các khe hở, nó sẽ cư xử như một hạt và tạo ra vệt sáng rõ ràng trên màn chắn phía sau. Giống như một viên đạn nhỏ, nó đi qua khe hở này hoặc khe hở kia, một cách rất logic. Nhưng nếu các nhà khoa học không quan sát quỹ đạo của các hạt, nó sẽ cư xử như các sóng và đi qua cả 2 khe hở cùng một lúc. Điều này đã được chứng minh một cách thuyết phục.
Một báo cáo đăng trên tạp chí bình duyệt Physics Essays cho biết thí nghiệm đã được lặp lại nhiều lần và yếu tố ý thức có tương quan mạnh với xáo trộn của các nhiễu xạ trong vệt sáng sau khe đôi.
“Quan sát không chỉ ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm mà còn tạo ra kết quả. Chúng ta cưỡng bách các electron để giả định một vị trí nhất định. Chính chúng ta đã tự tạo ra kết quả đo lường,” báo cáo kết luận.
Uranium là nguyên tố không ổn định và phân rã theo thời gian, quá trình này gọi là phân rã phóng xạ. Nhưng năm 1977, các nhà khoa học ở Texas đã phát hiện rằng: sự phân rã uranium sẽ diễn ra một cách bình thường nếu họ không quan sát chúng. Nhưng bất cứ khi nào họ quan sát chúng, quá trình phân rã uranium sẽ không diễn ra như dự tính.
Sau hai ngày quan sát mà không thấy sự phân rã uranium như lẽ thường, phòng thí nghiệm đã báo cáo phát hiện của họ cho các phòng thí nghiệm khác. Các phòng thí nghiệm khác cũng tiến hành thử nghiệm việc quan sát uranium một cách nghiêm ngặt và chặt chẽ. Nhưng tất cả đều có cùng một kết quả: một số nguyên tử uranium sẽ không phân rã nếu ta quan sát chúng.
2. Các thí nghiệm của Mỹ về khả năng di chuyển đồ vật bằng tâm trí

Năm 2004, Không quân Hoa kỳ đã giải mật một báo cáo có tiêu đề “Nghiên cứu vật lý Viễn tải” (Teleportation Physics Study) của tiến sĩ Eric Davids, cho thấy các nhà khoa học đã xem khả năng di chuyển đồ vật bằng tâm trí và các hiện tượng cận tâm lý khác là chủ đề nghiên cứu nghiêm túc.
Lấy ví dụ cụ thể, kĩ sư hàng không vũ trụ chuyên nghiệp Jack Houck, cùng đại tá quân đội J.B. Alexander đã tổ chức một số buổi dạy về khả năng di chuyển đồ vật bằng tâm trí và thực hành trên các mẫu vật kim loại như dĩa, thìa. Những người tham gia đã có thể uốn cong hoàn toàn hoặc bóp méo các mẫu vật kim loại mà không sử dụng bất kì lực vật lý nào.
Những buổi như thế này có sự tham gia của các cố vấn khoa học cho chính phủ và quan chức quân sự cao cấp. Thí nghiệm diễn ra tại Lầu Năm Góc, tại nhà riêng của các sĩ quan và nhà khoa học, và tại các trụ sở của Bộ tư lệnh An ninh và Tình báo Lục quân Hoa Kỳ trên toàn thế giới. Các tướng chỉ huy, các đại tá và nhiều sĩ quan đã luôn có mặt. Họ đã chứng kiến và “rất hào hứng” trước sự biến dạng đột ngột của các mẫu vật kim loại.
ADVERTISEMENT
Video về khả năng của Uri Geller – một nhà ngoại cảm nổi tiếng từng tham gia thí nghiệm của CIA:
3. Các thí nghiệm về dao thị do NSA/CIA kết hợp với Đại học Stanford
Dao thị là khả năng có thể thấy cảnh tượng ở cách xa đến hàng trăm ngàn cây số, thậm trí xa hơn nữa. Khái niệm này đã được biểu diễn, chứng minh và ghi nhận một số lần.
Năm 1995, Cục tình báo trung ương Mỹ CIA giải mật và chấp thuận công bố một số tài liệu tiết lộ về việc tham gia một chương trình bí mật kéo dài 25 năm.
Ingo Swann, một người tham gia thí nghiệm này có thể nhìn thấy được các vòng tròn đặc trưng bao quanh sao Mộc trước khi NASA chụp ảnh nó bằng tàu không gian Pioneer 10. Điều này đã được nghi nhận trong nghiên cứu. Một số cá nhân cũng có thể nhìn được vật thể và con người ở các phòng riêng biệt và hoàn toàn bị chặn từ vị trí người quan sát, điều này rất đáng kinh ngạc.

Trong khi một phần của giới khoa học dòng chính tiếp tục nhìn nhận chúng là “ngụy khoa học,” các dự án này kéo dài trong nhiều thập kỷ. Bộ quốc phòng Mỹ coi vấn đề này là cực kỳ nghiêm túc và giữ thông tin ở mức độ tuyệt mật. Chương trình này nằm trong dự án “STARGATE” và đã bị dừng đột ngột.
4. Suy nghĩ và ý định làm thay đổi cấu trúc vật lý của nước
Trong 4 thập kỷ vừa qua, đã có rất nhiều các thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của ý thức con người đến tính chất của nước. Người ta muốn tìm kiếm các phương pháp điều trị thay thế cho thuốc, vì khoảng 70% cơ thể người là được tạo thành từ nước.
Viện nghiên cứu khoa học Noetic của Mỹ đã có các thí nghiệm chứng minh rằng ý thức con người có thể ảnh hưởng đến nước, thể hiện qua các tinh thể nước hình dạng khác nhau khi đóng băng. Kết quả đồng nhất của thí nghiệm đều chỉ ra rằng: các suy nghĩ tích cực có xu hướng tạo ra tinh thể nước có tính thẩm mỹ cao, đối xứng và hoàn chỉnh; còn các ý nghĩ tiêu cực có xu hướng tạo thành các tinh thể méo mó, tan vỡ và trông rất xấu.
Cũng tương tự, ở Nhật Bản, Tiến sĩ Masaru Emoto, chủ tịch Học viện Hội Hado Quốc tế (IHM), tác giả cuốn sách “Thông điệp của nước“ cũng đã thực hiện rất nhiều thí nghiệm với tinh thể nước. Ông phát hiện rằng tinh thần không chỉ có thể ảnh hưởng tới vật chất, mà còn ảnh hưởng một cách vô cùng tinh tế, như biểu đạt cảm xúc của bài hát, cảm nhận được nội dung của các từ ngữ, cảm nhận được tình cảm của con người.

Điều này cũng tương đồng với nghiên cứu về tác động của ý định và niềm tin lên tâm trạng khi uống trà. Nghiên cứu khám phá ra rằng việc uống trà được “đối xử” với một chủ tâm tốt của các nhà sư sẽ ảnh hưởng đến tâm trạng nhiều hơn so với việc uống trà bình thường.
5. Hiệu ứng giả dược (placebo)
Các nhà khoa học đã ghi nhận rằng chúng ta có thể thay đổi các yếu tố sinh học chỉ đơn giản bằng niềm tin của mình. Phương pháp điều trị bằng hiệu ứng giả dược (placebo) đã cho thấy sức khỏe hoặc hành vi của bệnh nhân trở nên tốt hơn cho dù họ chỉ uống một loại thuốc giả (thuốc không có bất cứ tác dụng nào) và không điều trị bằng bất kỳ loại thuốc hay mũi tiêm nào. Điều này gợi ý đến phương pháp trị bệnh bằng tinh thần. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hiệu ứng giả dược là có thực và có hiệu quả cao.
Một nghiên cứu của trường Y học Baylor, xuất bản năm 2002 trên Tạp chí Y học Anh, đã so sánh các cuộc phẫu thuật cho bệnh nhân thoái hóa khớp gối nặng. Nhiều bác sĩ phẫu thuật cho rằng không có hiệu ứng giả dược trong trong phẫu thuật và hầu hết họ đều tin như vậy. Các bệnh nhận được chia làm 3 nhóm. Các bác sĩ phẫu thuật tiến nhành cạo lớp sụn bị hỏng ở đầu gối của nhóm thứ nhất. Ở nhóm thứ hai, các bác sĩ bơm chất lỏng vào khớp gối và loại bỏ ra ngoài các chất có thể gây viêm. Cả hai phương pháp này đều quen thuộc cho những người bị viêm khớp gối nặng. Nhóm thức ba nhận được một cuộc phẫu thuật giả, bệnh nhân chỉ được cho dùng thuốc an thần và bị “lừa” rằng họ đã được phẫu thuật khớp gối. Với nhóm thứ ba này, các bác sĩ đã rạch và phun nước muối vào khớp gối giống như trong các cuộc phẫu thuật thông thường. Sau đó họ khâu lại vết hương như thật và kết thúc ca phẫu thuật. Cả ba nhóm sau đó đều trải qua quá trình phục hồi chức năng giống nhau. Và kết quả thật đáng kinh ngạc: nhóm dùng giả dược cũng có cải thiện giống như 2 nhóm đã được phẫu thuật thật sự.

Một báo cáo của Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ (HHS) trong năm 1999 cũng nhấn mạnh hiệu quả của hiệu ứng giả dược với điều trị trầm cảm. Theo đó, 50% bệnh nhân trầm cảm nặng dùng thuốc có cải thiện bệnh, so với 32% dùng giả dược cũng có tác dụng cải thiện bệnh. Nếu xét đến rất nhiều nguy hiểm và tác dụng phụ của thuốc chống trầm cảm, bạn sẽ chọn dùng phương pháp nào?
Năm 2002 trên Tạp chí Phòng ngừa và Điều trị của Hiệp hội tâm lý Hoa Kỳ, giáo sư tâm lý học Irving Kirsch tại Đại học Connecticut đã có bài viết tựa đề “Liều thuốc mới của Hoàng đế”, đưa ra một số khám phá gây sốc hơn nữa. Ông thấy rằng 80% hiệu quả của thuốc chống trầm cảm, được đánh giá trong các thử nghiệm lâm sàng, có thể là do hiệu ứng giả dược. Vị giáo sư này thậm chí đã phải nộp đơn Yêu cầu tự do thông tin (FOIA) để có được thông tin thử nghiệm lâm sàng của các loại thuốc chống trầm cảm hàng đầu.
Cận tâm lý – lĩnh vực khoa học nghiêm túc và đầy tiềm năng
Trên thế giới hiện có rất nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy ý thức con người và thực tại vật chất của chúng ta đan xen và hòa quyện với nhau theo nhiều cách đa dạng: chuyển giao thông tin hay năng lượng bất thường, thần giao cách cảm và các hiện tượng không giải thích được nhưng có thể quan sát hoặc lặp lại trong phòng thí nghiệm.
Chúng được các nhà khoa học gọi chung là các nghiên cứu về parapsychology (tạm dịch: cận tâm lý học, viết tắt là Psi). Bạn có thể tham khảo danh sách nghiên cứu về Psi của Viện nghiên cứu khoa học Noetic của Mỹ, chứng minh rằng ý thức con người và thế giới vật chất vật lý là kết nối lẫn nhau.
Như vậy, ý thức có thể đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thay đổi hành tinh của chúng ta. Hãy tìm sự bình an trong nội tâm của bạn, hãy hòa bình, hãy yêu thương… những việc tưởng chừng nhỏ bé trong hành động và sống cuộc sống của bạn lại có thể đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi thế giới này.
Theo collective revolution,
Thiện Tâm tổng hợp
Thiện Tâm tổng hợp
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Pythagore và thuyết luân hồi
Pythagore và thuyết luân hồi NSGN - Quan niệm tái sinh, luân hồi (saṃsāra) của sinh mạng không phải chỉ riêng có trong tư tưởng Phệ...
-
Vị trạng nguyên chỉ làm dân thường mà vẫn giúp đánh đuổi quân Nguyên Mông Trần Hưng • Thứ Năm, 07/02/2019 • 22.1k Lượt Xem ...
-
Phát hiện chấn động: 2 thí nghiệm đồng thời xác nhận chiều không gian thứ 4 Thiện Tâm • Thứ Hai, 17/09/2018 • 4.7k Lượt Xem ...
-
Tu luyện – một nền khoa học bị lãng quên Thứ Tư, 06/02/2019 • 4.7k Lượt Xem Thử kể một chuyện cười: Bằng phương ph...


