Thứ Năm, 3 tháng 1, 2019

Vị thế và không gian (I): Luận về cội nguồn nghệ thuật

Vị thế và không gian (I): Luận về cội nguồn nghệ thuật

21/10/2011 16:04 - Phạm Trần Lê
Ngay từ khi ra đời, bản năng đầu tiên của con người là xác nhận không gian xung quanh thông qua hơi thở, âm thanh, hình ảnh, những tiếp xúc va chạm. Tất cả những tín hiệu cơ bản tạo cơ sở để con người định vị bản thân mình, định vị không gian, và bắt đầu hướng tới một vị thế cân bằng. Và kể từ đó, quá trình này sẽ lại mỗi khi bước vào một không gian mới mẻ bất kỳ.
Vị thế

Trong thế giới tự nhiên vạn vật đều thường trực đi tìm vị thế của chúng.

Một vật vô tri như hòn đá cũng biết tự lăn từ trạng thái bất cân bằng sang vị thế cân bằng. 

Những cá thể nào không tìm thấy tương quan cân bằng trong nội tại và với không gian quanh nó ắt sẽ bị loại bỏ, hay nói đúng hơn là buộc phải chuyển sang tồn tại ở một dạng khác. Trong môi trường nhiệt độ quá cao dưới lòng đất, cứng rắn như đá cũng bị tan chảy do không thể tự cân bằng trong nội tại.  

Trong thế giới sinh vật, tất cả mọi cá thể cũng đều phải nỗ lực hết mình để tồn tại, duy trì một chỗ đứng trong bầy đàn và quần thể sinh thái. Vị thế ấy cũng phải cân bằng. Nếu không, sớm muộn cá thể ấy sẽ bị bầy đàn, kẻ thù, hoặc môi trường đào thải.  

Không gian

Vị thế luôn gắn với không gian. Vị thế của một đối tượng bất kỳ là tương quan giữa đối tượng ấy với không gian chứa đựng nó. 

Không gian là gì? Đối với con người, không gian là một khái niệm phức tạp đa nghĩa. Một khoảng không có thể được coi là không gian. Một khoảng không với đầy ắp các sự vật chứa trong nó cũng đồng thời là không gian, như không gian nhà trường hay không gian văn phòng cơ quan. Có cả những không gian trừu tượng như không gian trong ánh mắt, không gian hoài niệm, không gian xã hội, không gian văn hóa. Đa phần không gian trong tâm tưởng con người đều ít nhiều hàm chứa cả chiều thời gian.

Năng lượng và cảm xúc

Năng lượng nảy sinh từ vị thế bất cân bằng. Hòn đá bị xô nghiêng thì tiềm ẩn trong nó thế năng. 

Tương tự như vậy, một sinh vật trong vị thế sắp bị tiêu diệt sẽ bùng phát ý chí cầu sinh. Cảm xúc là một dạng năng lượng trong tinh thần.
 
Cội nguồn cảm xúc của người
  
Khổng Tử xưa kia từng dùng âm nhạc để dạy học trò về Lễ. Tiếc rằng thứ nhạc Lễ ấy của Khổng Tử giờ không còn nữa. Giả dụ ngày nay còn được nghe loại nhạc này, hẳn bố cục các âm thanh của nó có thể đem lại cho chúng ta những trải nghiệm sâu sắc về vị thế trung dung của người quân tử trong thiên hạ.
Ngay từ khi ra đời, bản năng đầu tiên của con người là xác nhận không gian xung quanh thông qua hơi thở, âm thanh, hình ảnh, những tiếp xúc va chạm. Tất cả những tín hiệu cơ bản tạo cơ sở để con người định vị bản thân mình, định vị không gian, và bắt đầu hướng tới một vị thế cân bằng. Và kể từ đó, quá trình này sẽ lại mỗi khi bước vào một không gian mới mẻ bất kỳ.

Cảm xúc của người xuất phát từ vị thế của người đó trong không gian.

Khi đang yên vị mà bất thần bị mất cân bằng, người ta sẽ hụt hẫng và hốt hoảng, thậm chí đau đớn.

Tiếng khóc đầu đời của con người vừa là một bản năng tự vệ - hơi thở đầu tiên của đứa trẻ sau lọt lòng mẹ - cũng đồng thời là phản ứng tự nhiên để tự cân bằng trong tinh thần của một sinh linh.

Khi trong xu hướng dần xa rời vị thế cân bằng, người ta buồn bã, rã rời. 

Khi trong xu hướng đạt tới vị thế cân bằng, người ta dễ chịu, vui vẻ.

Khi bất thần cảm thấy mất cân bằng, nhưng nhận thấy mình sẽ lập tức trở về vị thế cân bằng, hoặc bỗng nhận ra mình vẫn đang ở vị thế cân bằng, người ta bật cười nắc nẻ.   

Khi bị mất chủ động và lạc từ không gian này sang không gian khác, người ta nôn nao. Giống như cảm giác khi ai đó bước chân vào cửa một phòng họp với bài trình bày hệ trọng trước đám đông mà chưa chuẩn bị đủ lý lẽ.

Cảm xúc của người luôn phản ánh vị thế của người đó trong không gian, dù là không gian hiện hữu có thật hay không gian trong tâm tưởng.

Giải mã bí ẩn của nghệ thuật 

Âm nhạc có từ cổ xưa nhưng không ai biết vì sao những âm thanh và giai điệu của chúng lại khuấy động thành cảm xúc. Vì sao âm nhạc dù không lời vẫn có thể khiến người ta mỉm cười hoặc bật khóc? 

Bí ẩn ấy vốn thật đơn giản.

Bằng việc sắp xếp bố cục giai điệu âm thanh qua các nốt cao và thấp, tiết tấu nhanh và chậm, các nhạc sỹ đã gieo vào lòng người nghe những vị thế khác nhau của không gian trong tâm tưởng.

Nghe khởi đầu bản giao hưởng số 9 của Beethoven, thính giả cảm thấy choáng ngợp và nôn nao, đó là do âm nhạc của người nghệ sỹ đã tài tình sử dụng độ chênh giữa các nốt, và độ chênh giữa tiết tấu bản nhạc so với nhịp thở thông thường của con người, để lôi tuột chúng ta vào một vị thế chơi vơi trong tâm tưởng.

Sự sắp xếp bố cục các ấn tượng trong không gian một tác phẩm nghệ thuật, dù đó là âm nhạc, hội họa, kiến trúc, văn học, hay điện ảnh, tất thảy đều tạo thành cảm xúc được là nhờ những bố cục ấy gieo vào lòng người thưởng thức những vị thế khác nhau trong không gian. Cùng một câu chuyện, nhưng kể thế nào để người đọc cảm thấy gay cấn, hồi hộp, đó là cái tài của nhà văn sắp xếp luân chuyển các không gian sự vật, và biết cách thắt, mở một cách phù hợp.

Chúng sinh ngụp lặn trong không gian ảo 

Đời sống khắc nghiệt luôn có những sức ép. Khi không chịu được sức ép, người ta tìm đến những không gian ảo, nơi có thể dễ dàng hơn trong việc đạt được một vị thế cân bằng. Không gian ảo dễ chịu hơn không gian thật nên chúng sinh, trong đó có con người, đều ngụp lặn trong không gian ảo. 

Đâu dễ để phân biệt giữa không gian ảo, không gian thật, khi mà tất cả đều là do những tín hiệu của não bộ tạo thành sự hình dung trong tâm tưởng. 

Càng khó hơn khi cái ảo quá phong phú, đa dạng. Một chén rượu, một liều thuốc kích thích, hay đơn giản chỉ là một suy nghĩ bay bổng. Nghệ thuật cũng góp phần đắc lực tạo ra những không gian ảo.

Chiều thời gian và đẳng cấp nghệ thuật

Con người luôn ít nhiều có thiên hướng tìm cái thật, bỏ cái ảo. Mức độ ít nhiều đó tùy thuộc vào khả năng cảm nhận chiều thời gian. Khi cảm thấy rõ rệt sự biến đổi mạnh mẽ của sự vật qua thời gian, người ta nhận ra sự mong manh của những gì giả tạm, và tìm đến những gì bền vững hơn. Thiên hướng ấy trong nhu cầu của con người, dù ít dù nhiều, là cơ sở để phân định đẳng cấp nghệ thuật. Bởi vì, một tác phẩm nghệ thuật đẳng cấp luôn mang đến những rung động phong phú và lâu bền cho người thưởng thức.   

Nghệ sỹ bậc thầy

Từ khi đặt nét cọ đầu tiên trên toan trắng, họa sỹ đi tìm cho nó một vị thế, vị trí nhát cọ ở đâu, màu sắc như thế nào, độ đậm nhạt ra sao, là do cảm xúc của người nghệ sỹ và công phu tài năng quyết định. 

Người nghệ sỹ bậc thầy cần sở hữu hai phẩm chất. Thứ nhất, người đó đạt đến trình độ “thân kiếm hợp nhất”, tức là có khả năng biểu đạt được xúc cảm một cách tinh tế, chính xác, và trọn vẹn ra tác phẩm. Thứ hai, cảm xúc của người đó đến từ những trải nghiệm sâu sắc qua vô vàn những không gian thật, ảo trong đời sống. 

Được như vậy thì trên toan vẽ không chỉ đơn thuần là những nét cọ. Nó là vô vàn những rung động phong phú và phức tạp một cách sống động. Những rung động ấy gieo vào lòng người xem những cảm nhận mới mẻ về bản thân và các không gian của đời sống quanh mình, thậm chí thay đổi hoàn toàn cách nhìn của họ đối với thế giới.

Trong đó, có thể có những rung động mạnh mẽ, âm vang hơn tất thảy, đồng điệu với rung động trong nội tâm của nhiều người thưởng thức trong một thời đại, hay thậm chí nhiều thời đại.   

Như vậy, người nghệ sỹ bậc thầy là kẻ cùng ngụp lặn giữa những không gian ảo trong tâm tưởng như mọi chúng sinh linh khác, tạo ra các tác phẩm là những không gian ảo như công việc của mọi nghệ sỹ bậc thầy khác, nhưng tác phẩm của một bậc thầy sẽ luôn thuyết phục được nhiều thế hệ người xem, bằng những luồng rung động vô tận. 

(Đón xem phần 2: luận về cội nguồn tôn giáo và khoa học)

Vị thế và không gian (II): Luận về cội nguồn tôn giáo và khoa học

Vị thế và không gian (II): Luận về cội nguồn tôn giáo và khoa học

24/10/2011 09:23 - Phạm Trần Lê
Trong Phần I: Luận về cội nguồn nghệ thuật, chúng ta đã đề cập tới một bản năng cơ bản của người, đó là luôn tìm cách đạt được một vị thế cân bằng trong không gian. Có thể gọi đây là một bản năng cơ bản vì nó là nền tảng ẩn sau đa số, nếu không nói là tất cả mọi bản năng khác của con người. Nó cũng chính là cội nguồn khiến con người hướng tới tôn giáo và khoa học.
Bản năng đằng sau mọi bản năng

Như đã đề cập trong Phần I, khái niệm không gian – có thể hiểu là nhận thức của con người về thế giới – có nhiều hình thái đa dạng, từ những không gian thân thuộc tới những không gian rộng lớn, từ những không gian cụ thể tới trừu tượng.

Nhiều ví dụ minh họa cho thực tế là con người cũng như mọi sinh vật, luôn muốn đạt được những vị thế nhất định trong không gian. 

Có người khao khát muốn khẳng định vị thế của mình trong không gian của các công việc, có thể là qua vị trí công việc, hoặc qua mức độ hoàn thiện của sản phẩm. 

Có người lại mong muốn có sự hiện hữu của mình trong ánh mắt một cô gái, tức là muốn giành được một vị thế trong không gian tâm tưởng của cô ta. Trong tình dục, ham muốn  xâm chiếm và giao thoa về thể chất của mỗi người có mối liên quan mật thiết tới cảm giác ham muốn đạt được một vị thế của mình bên trong người kia, và thể hiện cao độ nhất ở trạng thái cực khoái khi người ta cảm thấy vị thế ấy là tuyệt đối cân bằng và viên mãn.  

Người ta vẫn nói rằng bản năng sinh tồn là một trong những bản năng mạnh nhất, nhưng bản năng hướng tới vị thế cân bằng trong không gian còn mãnh liệt hơn. Có những người yêu nước đã tuẫn tiết để bảo vệ khí tiết, và ngược lại, cũng có những người có thể trầm cảm tới mức tự sát. Đối với họ, sự sống có lẽ cũng quý giá nhưng nỗi đau do bất cân bằng trong tinh thần còn sâu sắc hơn, và sự hi sinh được coi là cần thiết để giành lại vị thế cân bằng. 

Nguồn gốc của tôn giáo

Trong bài viết về Tôn giáo và Khoa học trong cuốn Thế giới như tôi thấy, Einstein cho rằng con người tạo ra tôn giáo vì sự sợ hãi, rằng họ hình dung ra những vị thần linh để có thể cầu khẩn, lễ bái với mong muốn được phù hộ giúp vượt qua các thiên tai, bệnh dịch, thú dữ, và cái chết. Nhận định này của nhà bác học thiên tài có vẻ như hợp lý, nhưng chưa làm sáng tỏ được hai vấn đề cơ bản.

Thứ nhất, vì sao đa số các tôn giáo khởi thủy thường là đa thần? 

Thứ hai, vì sao các tôn giáo cổ cũng đồng thời có chức năng mô tả về nguồn gốc xuất xứ của thế giới, với những sử thi kể về việc tạo lập trời đất và thế giới tự nhiên?  

Nếu con người tạo ra tôn giáo chỉ để trấn áp sự sợ hãi thì thực ra người ta chỉ cần tưởng tượng ra một vị thần có quyền uy tối thượng với khả năng giải quyết mọi vấn đề, và mỗi khi có chuyện gì cấp bách thì chỉ cần cúng tế một mình vị này là đủ giải tỏa mọi sự bất an. Như vậy sẽ hoàn toàn không cần phải xây dựng nên một thứ tôn giáo đa thần với vô số những thần sông, thần núi, thần cây, v.v, càng không cần phải thêm thắt vào tôn giáo những sử thi dông dài nào đó.

Những câu hỏi đó gợi thấy rằng tôn giáo không đơn thuần chỉ để giải tỏa nỗi sợ hãi, và có lẽ phải đến do một bản năng căn bản hơn. Đó là nhu cầu hướng tới một vị thế cân bằng, với hai bước cơ bản quen thuộc: định hình không gian và xác lập vị thế cân bằng

Hình tượng các vị thần được xây dựng chính là để hình tượng hóa, cụ thể hóa những sự vật và thế lực bí ẩn mà con người chưa thấu tỏ. Đó là một sự xác lập nhận thức về thế giới, hay nói một cách cơ bản hơn là định hình không gian

Sau bước định hình không gian là bước xác lập vị thế cân bằng, cũng chính là công dụng của các nghi lễ thờ phụng và cúng tế. Thông thường, chúng ta hiểu một cách thực dụng rằng việc thực hiện những lễ này là để cầu xin cho một công việc cụ thể nào đó. Nhưng suy xét một cách sâu xa hơn, chúng ta thấy rằng nghi thức thờ phụng và cúng tế là một hình thức giao tiếp, qua đó giúp con người xác lập vị thế của bản thân mình trước các đấng thần linh, tức là xác lập một vị thế của mình trước thế lực bí ẩn mà vị thần linh ấy làm đại diện. Hình thức ấy sẽ được con người cử hành cho tới khi nào cảm thấy an tâm, tức là khi đã xác lập được một vị thế cân bằng trong không gian mà cả người và thần linh cùng hiện hữu.

Chính từ nhu cầu định hình không gian và xác lập vị thế cân bằng mà đa thần giáo và các sử thi được hình thành. Các vị thần linh của tôn giáo đa thần là những hình tượng cụ thể, giúp mô phỏng lại sự phức tạp của thế giới mà con người nhận thức được, bao gồm cả thế giới tự nhiên và thế giới tinh thần với những phạm trù trừu tượng (ví dụ như nữ thần tình yêu và sắc đẹp trong thần thoại Hi Lạp). Quyền uy và số phận của họ gắn liền với những sử thi kể về sự hình thành và biến hóa của trời đất, không đơn thuần phục vụ chức năng chuyện kể giải trí, mà thực sự là cách thức giúp con người định hình thế giới và sự vận hành của nó. 

Điểm mù của nhà khoa học

Nếu như trong tôn giáo con người định hình thế giới qua các không gian của huyền thoại và sử thi, thì trong khoa học, con người định hình thế giới qua không gian của hệ thống các tiên đề, giả thuyết, định lý, v.v. Đồng thời, bên trong không gian mang tính tổng quan ấy, mỗi một bài toán lý thuyết hay một thách thức về công nghệ, cũng là một không gian riêng biệt. 

Sau khi đã định hình được những nét cơ bản của một không gian, nhà khoa học nỗ lực xác lập vị thế cân bằng của mình, bằng cách chứng minh tính hợp lý xuyên suốt các chi tiết tồn tại bên trong không gian ấy. Đối với lĩnh vực khoa học ứng dụng và công nghệ, không gian của nhà khoa học bao hàm cả những sự vật cụ thể của thực tiễn đời sống, và bản năng cũng thúc đẩy nhà khoa học sẽ nỗ lực tìm cách chứng minh tính hợp lý của lý thuyết khi kết nối với những sự vật này.

Mỗi một thông tin chưa hợp lý hoặc chưa rõ ràng đều là những yếu tố đe dọa tới sự cân bằng của toàn hệ thống, gây cảm giác lung lay vị thế của nhà khoa học trong không gian sự vật được nghiên cứu. Và đây chính là nhiên liệu thổi bùng lên niềm đam mê tìm hiểu và khám phá. (Liên quan tới điều này, trong Phần I, chúng ta đã đề cập rằng vị thế của con người trong không gian chính là cội nguồn của cảm xúc). 

Nhưng bản thân nhà khoa học lại rất thụ động trong việc nhận biết bản chất gốc rễ của những quy trình này.

Nếu bạn hỏi một nhà sáng chế công nghệ rằng vì sao người đó lại đam mê công việc của mình, có lẽ bạn sẽ nhận được câu trả lời rất cụ thể và thực dụng, chẳng hạn như: người đó nghiên cứu là vì muốn một vật gì đó chạy nhanh hơn, hoặc tốn ít năng lượng hơn, bền hơn, hoặc là giúp cho ai đó sống khỏe hơn, vui hơn, giàu có hơn, v.v. Nhưng nếu bạn lại tiếp tục hỏi vì sao mà những lý do thực dụng ấy lại giúp đem đến niềm đam mê trong công việc nghiên cứu, thì rất có thể nhà công nghệ sẽ không thể trả lời được câu hỏi của bạn.

Tương tự như vậy, nếu bạn hỏi một nhà nghiên cứu khoa học cơ bản, rằng vì sao người đó lại đam mê công việc của mình, thì câu trả lời có lẽ cũng sẽ gắn với những vấn đề khá cụ thể, chẳng hạn như: người đó muốn nghiên cứu về lý thuyết A để bổ sung, mở rộng, điều chỉnh, hoặc thay thế cho lý thuyết B nào đó có nhiều điểm hạn chế. Và nếu bạn vẫn tiếp tục truy hỏi tới tận gốc vấn đề, rằng vì sao cái lý do tinh vi mà người đó đưa ra ấy, lại giúp đem đến niềm đam mê trong nghiên cứu, thì rất có thể là nhà khoa học cũng không thể nào trả lời được câu hỏi của bạn.

Đó chính là điểm mù của nhà khoa học. Họ nghiên cứu tỉ mỉ và sâu sắc về các loại tri thức, giúp mang đến những giá trị thực dụng to lớn, đem lại niềm vui và cải thiện chất lượng cuộc sống cho nhiều người; nhưng họ không thể lý giải căn nguyên bản năng đem đến niềm đam mê trong công việc của mình. 

Giống như dao sắc không gọt được chuôi, các nhà khoa học là những người tài ba trong việc suy xét những sự vật hóc búa, nhưng họ thật bối rối khi phải tự suy xét chính mình.  

Vượt thoát 

Tự suy xét đòi hỏi con người phải bước ra ngoài không gian quen thuộc cố hữu.

Điều này có thể xuất phát từ bản năng thường tình, khi người ta cảm thấy sự bất cân bằng trong không gian của hiện tại.
  
Tâm lượng rộng lớn, biến khắp Pháp giới. Dùng đến thì rành rẽ phân minh, ứng dụng liền biết hết thảy. Hết thảy là một, một là hết thảy. Đến đi tự do. Tâm không ngăn ngại, tức là Bát Nhã

(Huệ Năng, Pháp Bảo Đàn kinh, phẩm Bát Nhã)
Nhưng những người có trí tuệ nhạy bén sẽ cảm nhận được sự bất cân bằng sớm hơn những người khác. Nhờ đó mà họ vượt thoát khỏi trạng thái cân bằng trì trệ trong một không gian nhỏ hẹp tạm thời để hướng tới sự cân bằng trong một không gian rộng lớn hơn.

Một quả táo rơi xuống đầu là chuyện nhỏ nhặt thường tình, nhưng đủ để giúp Newton vượt thoát khỏi những lý thuyết vật lý cũ kỹ trước đó để sáng tạo ra thuyết vạn vật hấp dẫn. 
Mỗi nhà khoa học được vinh danh trong lịch sử đều là những người sáng tạo ra các không gian mới, hoặc kết nối được các không gian biệt lập cố hữu – cũng tức là tạo ra một không gian mới bao trùm lên những không gian cũ. 

Phủ quyết Thượng đế và sự vong bản 

Nhờ có những bộ óc lớn lao được kích thích bởi bản năng vượt thoát mà cái không gian chung của khoa học ngày càng được mở mang bờ cõi. Tri thức khoa học phát triển thành một hệ thống chặt chẽ, quy mô hùng vĩ, và không ngừng biến đổi sinh động.

Cái không gian được xây dựng trên các tiên đề, giả thuyết, và vô vàn những kinh nghiệm thực nghiệm ấy đủ phong phú để lôi cuốn những tâm hồn non trẻ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản về định hình không gian và xác lập vị thế cân bằng của họ. Họ sẽ đủ tự tin và tự mãn để phủ quyết Thượng đế và tôn giáo.

Nhưng người ta không biết rằng Thượng đế cũng chính là biểu tượng sơ khai nhất của tinh thần vượt thoát. Tôn giáo và khái niệm Thượng đế từ cổ xưa đã phục vụ con người với vai trò làm điểm tựa tinh thần, giúp con người vượt qua những nhọc nhằn trong cuộc sống, động viên họ rằng ở bên ngoài không gian hạn hẹp đến từ những trải nghiệm hữu hạn chắp vá trước mắt, là một không gian rộng lớn hơn, thăm thẳm vô biên, đang chờ đợi sự vươn tới để tương tác và trải nghiệm từ phía con người.

Bát Nhã, con đường của trí tuệ trong tương lai

Trong một thế giới tiến bộ, khi con người có ý thức sâu sắc về vị thế và không gian, họ sẽ tự chủ động vượt khỏi những không gian hữu hạn giả tạm. Điều đó tất yếu sẽ dẫn đến nhu cầu tự nhiên là duy trì vị thế cân bằng trong một không gian vô hạn.

Trước kia, người ta đã đạt được điều này thông qua việc tương tác với một vị Thượng đế trong tâm tưởng. Tuy nhiên, trong tiến trình định vị không gian và xác lập vị thế cân bằng, con người văn minh đã hình thành nên một bản năng khác không kém phần tự nhiên, đó là tinh thần duy lý khoa học.

Sự tương tác giữa hai nhu cầu đối chọi nhau đó sẽ dẫn con người vượt thoát tới một trạng thái đặc biệt, vừa không lìa bỏ cái duy lý, vừa kết nối được với cái vô hạn. Đó là Trí tuệ Bát Nhã.

Trong thế giới ấy, mỗi hơi thở đều có sự kết nối với không gian vô hạn. Trí tuệ và cảm xúc được khai phóng. Các không gian hữu hạn trong tâm tưởng sẽ không bị triệt tiêu để đảm bảo tính duy lý, nhưng chúng có thể dễ dàng phóng chiếu thành vô vàn các biến hóa không gian khác nhau, và tùy duyên mà kết tinh lại vào không gian nào có sự lắng đọng cao nhất. 

Khi ấy, người tu hành, nhà khoa học, hay người nghệ sỹ, tất cả đều là một.

“Bí mật của Thiên đường và Địa ngục”

Có một vị sư ngồi tọa thiền ở bên đường. Ngài tọa thiền một cách rất tịnh tâm. Bỗng nhiên có một võ sĩ không biết từ đâu đến, cất giọng nói rất chói tai, người đó yêu cầu:
“Nhà sư kia, hãy nói cho ta biết thế nào là Thiên đường và Địa ngục!”
Vị thiền sư vẫn ngồi tịnh tâm bất động, một lúc lâu sau ông mở mắt và nở một nụ cười nhẹ nhìn người võ sĩ nhưng không nói gì cả. Người võ sĩ chờ đợi một cách sốt ruột, thời gian chậm chạp trôi qua nhưng vị sư vẫn không nói gì, người võ sĩ càng kích động hơn nữa.
Bí mật của Thiên đường và Địa ngục
(Ảnh: Shutterstock)
Cuối cùng vị sư già mở miệng hỏi: “Ngươi muốn biết bí mật của Thiên đường và Địa ngục ư? Trông ngươi vô cùng nhếch nhác, lấm đầy bụi bẩn, tóc rối bù và hôi hám, còn đường gươm thì vô tình tàn nhẫn. Thế mà người còn hỏi ta thế nào là Thiên đường và địa ngục ư?”
Người võ sĩ tức giận, gương mặt đỏ bừng tay vung cao thanh kiếm tấn công vị thiền sư. Ngay khi lưỡi kiếm lướt đến gần cổ của mình, vị thiền sư từ tốn nói: “Đây chính là Địa ngục.”
Trong khoảnh khắc đó, người võ sĩ nhận ra một sự chuyển đổi kỳ lạ trong tâm tưởng của mình, từ ngạc nhiên, sợ hãi, đến lòng trắc ẩn và tình thương cho người đã dám hy sinh mạng sống của chính mình để dạy cho anh một bài học. Anh ta buông tay và thanh kiếm rớt xuống đất, đồng thời trên mặt những giọt nước mắt tuôn rơi thành hàng.
Nhà sư nhìn thấy thế, nhẹ mỉm cười và nói: “Đây chính là Thiên đường”.

Bài học từ một vị thầy tu già trồng hoa lan

Một vị lão hòa thượng trồng một chậu hoa lan, ông rất chăm sóc và bảo vệ chậu hoa thanh nhã này, thường xuyên tưới nước, nhổ cỏ và bắt sâu cho nó. Hoa lan dưới sự chăm chút hết lòng của lão hòa thượng mà lớn lên khỏe mạnh và trổ hoa rất thanh tú.
Một lần, lão hòa thượng phải đi ra ngoài có việc một thời gian, ông liền đem chậu hoa lan giao lại cho tiểu hòa thượng nhờ chăm sóc.
Chú tiểu rất có trách nhiệm, cũng một lòng để tâm chăm sóc, nâng niu hoa lan như lão hòa thượng vẫn làm khiến hoa lan phát triển rất khỏe mạnh.
(Ảnh: Shutterstock)
Một hôm, tiểu hòa thượng sau khi đã tưới nước cho chậu hoa lan liền đặt nó ở trên bệ cửa sổ rồi đi ra ngoài làm việc.
Không ngờ, trời đổ mưa to, gió lớn làm chậu hoa lan rơi xuống đất vỡ tan. Chú tiểu sau khi trở về nhà nhìn thấy trên mặt đất cành lá gãy nát, héo úa nên vừa đau lòng vừa lo sợ lão hòa thượng sẽ quở trách.
Mấy ngày sau, lão hòa thượng trở về nhà, chú tiểu kể lại sự tình đã xảy ra và cũng sẵn sàng đón nhận sự trách mắng của lão hòa thượng.
Nhưng lão hòa thượng chẳng nói một lời nào quở trách nào cả khiến chú tiểu vô cùng bất ngờ, vì đó là chậu hoa lan mà ông yêu quý nhất mà!
Lão hòa thượng chỉ mỉm cười rồi nói với tiểu hòa thượng rằng: “Ta trồng hoa lan, đâu phải để tức giận?”
Thứ gì đó một khi bị mất đi không thể vãn hồi được nữa có nhất thiết phải oán trách hay thù hận không?
(Sưu tầm)

Câu chuyện về 3 bát mì trứng và bài học cha dạy con trai

Một buổi sáng, người cha làm hai bát mì trứng, một bát mặt trên có trứng, một bát mặt trên không có trứng, đặt ngay ngắn trên bàn, rồi hỏi cậu con trai muốn ăn bát nào?
bát mì trứng
(Ảnh minh họa)
– Bát có trứng ạ.  Cậu bé chỉ vào bát và nói.
– Nhường cho bố đi, Khổng Dung 7 tuổi đã biết nhường lê, con 10 tuổi rồi. (Khổng Dung là cháu đời thứ 20 của Khổng Tử, 7 tuổi đã biết nhường những quả lê ngon cho bố mẹ và anh em còn mình lấy quả lê nhỏ và xấu nhất).
– Khổng Dung là Khổng Dung, con là con, con không nhường đâu!
Bố hỏi dò: “Không nhường thật à?”
– “Không nhường!”, cậu bé kiên quyết trả lời, rồi lập tức cắn lấy một nửa miếng trứng, biểu thị bát mì đã thuộc về mình.
Người bố đối với động tác và tốc độ của cậu con hết sức kinh ngạc nhưng nhẫn nại hỏi lần cuối:
– Con không hối hận chứ?
– Không hối hận.
Và để biểu thị quyết tâm không gì lay chuyển, cậu bé ăn luôn miếng trứng còn lại.
Người bố lặng lẽ nhìn con ăn xong bát mì, ông quay sang bắt đầu ăn bát mì không trứng của mình, thì ra dưới đáy bát mì của bố có tận hai cái trứng, cậu con cũng trông thấy rõ ràng.
Ông chỉ vào hai cái trứng trong bát mì, dạy cậu con rằng:
“Con hãy ghi nhớ! Người muốn chiếm lợi cho riêng mình, sẽ không bao giờ chiếm được.”
Cậu con cảm thấy rất xấu hổ.
Lần thứ 2. Vào buổi sáng chủ nhật, bố lại làm hai bát mì trứng, cũng là một bát trứng nằm bên trên và một bát bên trên không có trứng. Ông vô tư hỏi:
– Con ăn bát nào?
– Con 10 tuổi rồi, con sẽ kính nhường cho bố. Vừa nói cậu vừa lấy bát mì không trứng.
– Không hối hận chứ?
– Không ạ!
Cậu kiên quyết trả lời rồi ăn rất nhanh, nhưng ăn gần hết cũng không thấy trứng đâu, còn người bố bắt đầu ăn bát mì của mình, điều không ngờ là bát mì của ông ngoài cái trứng nằm mặt trên còn có thêm một cái trứng nằm dưới đáy bát. Ông chỉ vào cái trứng nói:
“Ghi nhớ! Người muốn chiếm lợi riêng có thể phải chịu thiệt thòi lớn.”
Lần thứ 3. Qua vài tháng sau, người bố lại nấu hai bát mì và hỏi con:
– Ăn bát nào vậy con ?
– Khổng Dung nhường lê, nhi tử nhường mì. Bố là bậc bề trên, bố chọn trước đi ạ.
– Vậy bố không khách sáo nhé.
Ông chọn lấy bát mì có trứng, cậu con lần này thần thái bình tĩnh không vội như hai lần trước, lấy bát mì không trứng mà ăn. Cậu ăn một lúc thì bất chợt phát hiện trong bát mì của mình cũng có trứng. Người bố ý vị nói với con:
“Người không muốn chiếm lợi riêng, cuộc sống sẽ không để cho họ chịu thiệt thòi.”
Chúng ta nên ghi nhớ rằng cuộc sống này thật sự rất công bằng, và rất kỳ diệu, người không muốn chiếm lợi riêng, cuộc sống sẽ không để cho họ chịu thiệt thòi.
(Sưu tầm)

Bài học từ cách đàn ngỗng bay cùng nhau

Chắc rằng có lúc chúng ta tự thắc mắc tại sao đàn ngỗng luôn tạo thành hình chữ “V” khi bay cùng nhau. Tại sao chúng lại tạo hình chữ “V” mà không tạo hình theo kiểu khác?
Bài học từ cách đàn ngỗng bay cùng nhau
(Ảnh: Pixabay)
Theo các nghiên cứu từ những nhà khoa học, khi một con ngỗng vẫy cánh, nó sẽ tạo ra một lực nâng cho con ngỗng bay phía sau nó, cho nên khi bay theo đội hình chữ “V” cả đàn sẽ được tiếp thêm sức mạnh khoảng 71% so với việc bay từng con riêng lẻ.
Những ai biết cùng nhau chia sẻ mục tiêu và có tinh thần đoàn kết thì sẽ đến đích nhanh chóng và dễ dàng hơn vì họ đang đi cùng hướng với những người xung quanh.
Khi một con ngỗng bay lệch ra khỏi đội hình, nó sẽ phải một mình vất vả chống chọi với sức cản của gió, điều đó sẽ làm nó mất rất nhiều sức, do đó nó sẽ nhanh chóng trở lại đúng vị trí trong đội hình, để nhận được lực nâng đỡ từ con phía trước.
Nếu chúng ta luôn giữ vững đội hình với những người đi cùng chúng ta, chúng ta sẽ tiết kiệm được rất nhiều sức lực và nhanh chóng đến được đích.
Khi con ngỗng dẫn đầu đuối sức, nó sẽ bay ra phía sau của đội hình và nhường vị trí dẫn đầu cho con khác.
Nếu con người chúng ta cũng luân phiên thực hiện những công việc cần sự nỗ lực cao, luân phiên nhận lấy trách nhiệm khó khăn như cách đàn ngỗng làm thì con đường đến với thành công chắc chắn sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn.
Những con ngỗng bay ở phía sau sẽ phát ra những tiếng kêu để khuyến khích, cổ vũ cho những con phía trước giữ vững tốc độ.
Còn bạn, khi bạn lùi lại phía sau bạn sẽ gửi thông điệp gì cho người đang đứng trước bạn?
Bài học từ cách đàn ngỗng bay cùng nhau
(Ảnh: Pixabay)
Khi một con ngỗng bị ốm hoặc bị thương không theo kịp đàn, hai con khác sẽ lập tức tách khỏi đội hình, dìu con bị ốm xuống đất để giúp đỡ và bảo vệ nó. Chúng sẽ ở lại cùng nhau cho đến khi con ngỗng ốm có thể bay lại được. Nếu con ngỗng đó không may chết đi, hai con còn lại sẽ tiếp tục bay, hoặc gia nhập vào một đàn khác để bắt kịp đàn của mình.
Nếu chúng ta cũng như đàn ngỗng, cũng sẽ vì đồng đội của mình mà trở thành điểm tựa trong những lúc khó khăn thì sự đoàn kết sẽ giúp chúng ta tiến xa hơn, ngày càng gần đến mục tiêu hơn nữa.
Cũng như câu nói: “Muốn đi nhanh, hãy đi một mình, muốn đi xa, hãy đi cùng nhau”. Trong cuộc sống, chúng ta không bao giờ có thể sống cô độc một mình mà luôn cần những người quanh ta, những người thân, bạn bè cùng nhau tiến bước. Do vậy, chính chúng ta cũng cần là nơi để bạn bè tìm đến những lúc cần.
(Sưu tầm)

Pythagore và thuyết luân hồi

Pythagore và thuyết luân hồi NSGN - Quan niệm tái sinh, luân hồi (saṃsāra) của sinh mạng không phải chỉ riêng có trong tư tưởng Phệ...