Trời có lúc nắng lúc mưa, người có lúc may mắn hoặc xui xẻo. Nhưng không có cái gì tự dưng sinh ra hay mất đi, tất cả đều có lý do của do của nó.
Theo Định luật Bảo toàn năng lượng, khi ta dùng một lực ném quả bóng vào tường, tường sẽ trả lại quả bóng về phía ta do có một phản lực từ bức tường bằng với lực ném của ta. Nếu không ném quả bóng vào tường thì làm gì có quả bóng nào tự dưng bay về phía ta?
NẾU BẠN MUỐN "GIẢI HẠN" thì đây là 4 điều mà nếu bạn làm thì CHẮC CHẮN sẽ hiệu nghiệm mà không cần thầy bà nào cúng sao giải hạn cả. Bạn là thầy của chính bạn.
📌 Điều 1. ĂN NĂN
Ăn năn về tất cả những suy nghĩ, lời nói và hành động vô ý hoặc cố ý, mình biết hoặc không biết đã làm tổn thương cho người khác hoặc loài vật. Bạn biết đấy, đụng vào điện là điện giật, bất kể bạn có biết đó là điện hay không. Cho nên "không biết vẫn có tội".
Rất may là "Đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại". Mà cho dù có "đánh" thì cũng "nhẹ tay" khi người có lỗi biết ăn năn và hứa sẽ bù đắp. Pháp luật cũng luôn có "khoan hồng" cho những ai tự nhận lỗi trước khi bị vạch ra.
📌 2. BÙ ĐẮP
Khởi TÂM mong muốn bù đắp cho những ai đã vì mình mà tổn thương. Sau đó, tích cực làm nhiều việc Thiện và hồi hướng công đức đó cho họ và cho cả những người thân của họ. Một cốc nước mặn, bỏ thêm muối vào thì sẽ mặn hơn nhưng đổ thêm nước vào thì sẽ nhạt dần, giải hạn cũng như vậy.
📌 3. THA THỨ CHO NHỮNG LỖI LẦM CỦA NGƯỜI KHÁC
Ai cũng có lỗi lầm, bạn không tha thứ lỗi lầm cho người khác mà muốn được Trời Đất tha thứ là vô lý.
📌 4. BIẾT ƠN
Dù gặp may mắn hay xui xẻo thì bạn phải nhớ rằng đó là NHÂN QUẢ của bạn, nó dành cho bạn. Người có thể nhầm lẫn nhưng Luật Trời không bao giờ nhầm lẫn.
Khi may mắn, hãy biết ơn Trời Đất đã giúp cho những việc Thiện mà bạn đã gieo nay thành Quả Ngọt.
Khi xui xẻo, hãy biết ơn vì rất may là đã không tệ hơn.
Cầu cho cộng đồng cùng thức tỉnh, không sát sinh để cúng tế vớ vẩn, không lãng phí vào những việc mê tín dị đoan.
Lan toả bài viết này cũng là làm một việc Thiện.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Nam mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát!
Thuốc men và y học không phải là cách duy nhất chữa lành được bệnh tật, trong thực tế ta có thể sử dụng phước báo , công đức để đẩy lùi bệnh tật. So với y học, dùng thuốc men để trị bệnh trên ngọn, thì phương pháp dùng phước báo có thể trị bệnh đến tận gốc rễ. Không chỉ có thế, bạn còn đạt được vô số ích lợi không thể nghĩ bàn nhờ quá trình tu tập theo Phật Pháp. Tổng kết lại những phương pháp dùng Phật Pháp để trị bệnh ( các câu chuyện trong sách này đã đề cập được một số , nhưng thực ra còn có những phương pháp khác rất hiệu nghiệm chưa được đề cập đến, xin được giới thiệu luôn để quý vị có được cái nhìn toàn diện ), bạn cần thực hiện theo các bước sau đây để nhanh chóng dứt trừ các căn bệnh đang ngày đêm hành hạ bạn.
Bước thứ nhất : Dừng tay tạo nghiệp.
Bạn phải hiểu được rằng, bệnh tật sở dĩ có mặt là do những sai lầm, những tội lỗi, những nghiệp xấu của bạn trong quá khứ. Nó không hề ngẫu nhiên, có thể do nghiệp của kiếp này mà bạn nhớ được, cũng có thể do nghiệp kiếp trước mà bạn không biết, nên thay vì óan trời trách đất bất công, ta nên quay lại chính mình để tu sửa. Trước hết là bạn phải dừng tay tạo nghiệp, không được sát sinh nữa, không được tạo thêm các nghiệp như tà dâm, ác khẩu, chiếm đọat, rượu chè.v.v...nữa và hãy cố gắng ăn chay, vì ăn mặn cũng là thúc đẩy cho việc sát sinh. Nếu như bạn không chịu dừng tay tạo nghiệp thì mọi công đức của bạn xem như vô ích. Giống như người nghiện thuốc lá đến nỗi bị lao phổi, anh ta liền uống các lọai thuốc tốt nhất để trị bệnh phổi, song lại chẳng chịu bỏ thuốc lá, hàng ngày vẫn cứ đều đặn hít vào phổi cái thứ khói đầy độc tố ấy. Thế thì dù anh ta có uống thuốc tiên cũng chẳng bao giờ khỏi bệnh được. Vậy bạn hãy nhớ điều thứ nhất : dừng tay tạo nghiệp !
Bước thứ hai : Sám hối tội chướng .
Sám hối là một pháp tu chuyên tiêu trừ các ác nghiệp trong quá khứ, nghiệp đã tiêu trừ thì bệnh tật, khổ đau cũng tiêu tan. Nếu bạn nhớ được, biết được những tội lỗi đã gây ra trong kiếp này, với những người nào, chúng sinh nào, thế thì bạn hãy hướng tới những người đó, chúng sinh đó mà ăn năn, sám hối những sai trái xưa kia. Còn với những tội từ nhiều kiếp quá khứ, hay những tội không nhớ biết hết được , có một cách chung để hóa giải, đó là bạn phải tụng đọc nhiều lần 2 bộ sám nổi tiếng : Từ Bi Thủy Sám và Lương Hòang Sám. Tụng đọc đến đâu, khởi tâm sám hối, ăn năn đến đó. Đây là những bộ sám rất đầy đủ và hòan chỉnh, có công năng sám hối diệt tội vô cùng mạnh mẽ, đảm bảo nếu bạn thành tâm tụng đọc thường xuyên sẽ giải được vô số nghiệp chướng của quá khứ, đẩy lùi các căn bệnh và đau khổ.
Bước thứ ba : Bù đắp bằng công đức.
Để cho sự sám hối của bạn mạnh mẽ hơn, hiết thực hơn, để việc chữa lành bệnh tật trở nên nhanh chóng, hiệu quả hơn, bạn cần phải tạo thật nhiều phước lành , tích chứa nhiều công đức để bù đắp cho các nghiệp, các tội trong quá khứ. Đây là vấn đề then chốt và cực kì quan trọng nếu bạn muốn nhanh chóng hết bệnh. Bạn có thể chọn một, hai cách , hay tốt nhất thì nên chọn tất cả các cách tạo công đức sau đây để thực hành tùy theo điều kiện của mỗi người.
1- Niệm Phật Niệm danh hiệu Phật và các vị Đại Bồ Tát là phương pháp dễ thực hiện nhất nhưng kết quả thật vi diệu và thù thắng, nên chắc chắn bạn không thể bỏ qua. Vì phương pháp này một nửa là do phước niệm Phật của bạn, một nửa là do sức gia hộ của chư Phật, chư Bồ Tát. Bạn càng niệm nhiều, sức gia hộ của các Ngài càng mạnh, vì chư Phật và Bồ Tát không phải không muốn cứu bạn, mà cần phải có duyên giữa bạn và các Ngài.Thông qua câu niệm Phật, duyên lành, hay nói một cách khác, sự kết nối của bạn với các Ngài tăng trưởng dần dần, và sự gia hộ của các Ngài cũng sẽ mạnh dần lên. Đây cũng chính là phương pháp được sử dụng nhiều nhất, khiến nhiều người khỏi bệnh nhất. Trừ ra khi đang trong nhà vệ sinh hoặc những lúc tế nhị khác, còn lúc nào, nơi nào bạn cũng có thể niệm Phật : “ Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật !” , “ Nam Mô A Di Đà Phật !” , “ Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát Cứu Khổ Cứu Nạn !” .v.v.... bạn có thể niệm danh hiệu của vị nào tùy ý. Niệm thành tiếng được thì tốt hơn, nhưng nếu hòan cảnh không cho phép thì có thể niệm thầm. Chỉ cần thành tâm và kiên trì niệm một ngày ít nhất từ 1000 cho đến 10.000 câu niệm Phật, bạn sẽ bất ngờ vì kết quả đạt được.
2- Lạy Phật -Phát nguyện Cao hơn niệm Phật là lạy Phật, vì đó là sự kết hợp của tâm niệm Phật và thân lễ lạy. Đồng thời bạn cũng có thể kết hợp sám hối, phát nguyện … trong lúc lạy Phật. Hiệu lực hóa giải sẽ tăng lên rất- rất nhiều lần. Nếu có thể , bạn hãy duy trì lạy Phật mỗi ngày 100 lạy, vừa lạy vừa sám hối từng tội từng tội một , hoặc sám hối chung cho tất cả mọi tội lỗi. Còn về cách Phát nguyện, có vô số lời nguyện khác nhau tùy tâm mỗi người , nhưng nếu bạn phân vân không biết nên Phát nguyện thế nào, xin giới thiệu dưới đây lời nguyện có công năng đặc biệt vi diệu được tổng hợp từ các kinh Đại Thừa để bạn tham khảo ( Nếu bạn chọn Phát nguyện theo cách này, bạn nên học thuộc chính xác từng từ để đạt được hiệu quả cao nhất ): “ Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật ! Nam Mô A Di Đà Phật ! Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát ! Con xin nguyện trong tất cả các kiếp về sau, con sẽ lìa xa tất cả mọi điều bất thiện về thân- khẩu - ý, quyết tâm tu tập theo tất cả lời dạy của Phật, theo gương Phật giữ tâm không chấp tướng mà hóa độ cho tất cả chúng sinh đều đạt được Phật Quả Tối Thượng! Xin Mười Phương Chư Phật chứng minh !”
3- Tụng đọc Kinh điển Công đức tụng đọc Kinh điển ( đọc là nhìn vào kinh mới đọc được , còn tụng là không nhìn kinh mà đọc thuộc lòng ) là vô cùng mạnh mẽ và vi diệu không thể cân đong đo đếm được, giải trừ tội chướng, tăng trưởng phước đức, trí tuệ vô lượng. Ý nghĩa của việc tụng Kinh cũng giống như việc cài đặt các phần mềm vào máy tính, tụng đọc Kinh điển hiểu một cách sơ lược là nhiếp tâm ý của bạn vào lời dạy vàng ngọc của Đức Phật, khiến cho thân – khẩu – ý của bạn hòa vào lời Kinh, diệt trừ mọi thứ bất thiện, phát sinh vô số hạnh lành trong hiện tại và tương lai, tạo ra công đức tuyệt đối. Đó chỉ là nói sơ sài, đại khái, còn thật sự ý nghĩa tụng kinh còn vĩ đại hơn vô vàn lần. Trong số các Kinh điển Phật giáo, thì Kinh Địa Tạng và Phẩm Phổ Môn của Kinh Pháp Hoa được xem là những bộ Kinh tiêu tai giải nạn thù thắng, mạnh mẽ nhất. Nhưng bạn cũng có thể tụng đọc các Kinh điển khác như Bát Nhã Tâm Kinh, Kinh Kim Cang, chú Đại Bi trong kinh Đại Bi Tâm Đà Ra Ni ...cũng sẽ đạt được kết quả vô cùng lớn lao. Điều quan trọng là bạn phải hiểu rõ ý kinh, như thế công đức mới lớn, còn tụng đọc mà không hiểu thì công đức ít hơn rất nhiều ( trừ ra các loại thần chú như chú Đại Bi, chú Lăng Nghiêm… thì không cần hiểu nghĩa ). Nên lời khuyên dành cho những người mới biết Đạo Phật là nên đọc tụng Kinh Địa Tạng, vì lời Kinh rõ ràng, ý Kinh dễ hiểu, phù hợp với mọi căn cơ. Để việc tụng Kinh đạt được công năng hóa giải tối đa, bạn phải ăn chay ( ít nhất trong thời gian tụng Kinh) Nếu gia đình có bàn thờ Phật thì tụng đọc trước bàn thờ, nếu không thì chọn một nơi sạch sẽ, yên tĩnh để tụng đọc. Bạn nên quỳ tụng nếu có thể, vì sự thành tâm càng lớn bao nhiêu, hiệu quả càng lớn bấy nhiêu. Còn nếu không được thì ngồi xếp bằng ngay ngắn cũng được . Khi tụng Kinh, không nhất thiết phải đánh chuông mõ, tụng ngân nga như các vị sư trong chùa. Bạn chỉ cần đọc thành tiếng rõ ràng, mạch lạc, đọc truyền cảm được thì càng tốt ( Nếu sợ ảnh hưởng đến xung quanh thì có thể đọc thầm bằng mắt ) Điều quan trọng nhất là phải tập trung vào lời Kinh , không để tâm suy nghĩ lung tung các chuyện khác. Tùy theo nghiệp mỗi người nặng nhẹ khác nhau mà ít thì tụng đọc từ 7lần, nhiều thì tụng cho đến 108 lần Kinh Địa Tạng sẽ thấy kết quả vô cùng vi diệu.
4- Phóng sinh Có thể nói đây là cách làm phước nhanh nhất khi bạn có điều kiện kinh tế. Nếu bạn không rành về phóng sinh, lời khuyên dành cho bạn là không cần để ý đến ngày tháng nào, cứ lặng lẽ ra chợ mua các loài thủy tộc như ốc, hến, lươn, ba ba, cá trê... vì chúng sống dai, không lo bị chết giữa đường. Rồi tìm một cái hồ, hay sông suối... để thả phóng sinh, như thế là bạn đã cứu sống rất nhiều sinh mạng. Bạn cần phải cân nhắc kĩ về nơi thả chúng liệu có an toàn hay không, có phù hợp môi trường sống của chúng không, vì nếu không phù hợp, chúng có thể bị chết ngay, hoặc bị người ta bắt lại ngay ( ví dụ như thả cá nước ngọt vào chỗ nước lợ, nước mặn thì cá sẽ chết ngay lập tức ) và việc phóng sinh của bạn thành công dã tràng. Nếu bạn biết Nghi thức tụng phóng sinh ( có thể tìm trên Google ) và tụng theo thì sẽ đạt được phước báo lớn hơn rất nhiều. * Lưu ý : tuyệt đối không nên mua chim người ta bắt nhốt sẵn với mục đích chờ bạn mua để phóng sinh.Vì chúng vốn tự do trên trời, bởi có người mua nên mới có người đi bắt nhốt, chờ có người mua phóng sinh. Việc phóng sinh như thế không có phước gì mà còn thúc đẩy người ta tạo tội thêm mà thôi.
5- Ấn tống Kinh - sách thiện Ấn tống là một hình thức bố thí Pháp, mà như lời Phật dạy thì bố thí Pháp là vua của mọi loại Bố thí. Việc ấn tống, in Kinh, tặng sách thiện cho mọi người là công đức vô cùng vô tận, vì ấn tống có thể sản sinh ra mọi việc lành khác, nhưng đòi hỏi người ấn tống phải có một hiểu biết nhất định về Kinh - sách. Vì khi chọn sách ấn tống, bắt buộc phải là sách hướng con người ta đến điều thiện, nếu không thì chẳng có công đức gì, có khi ngược lại, tạo thành tội rất nặng nếu như sách đem tặng là loại sách kích động bạo lực, yêu đương, tình dục... Rồi bạn cũng phải cân nhắc việc tặng cho ai ? Liệu người ta có đọc hay chỉ đem về quăng xó, hoặc tệ hơn là đem nhóm bếp, đây là điều thực tế đã xảy ra, và xảy ra rất nhiều. Cách an toàn nhất là trước tiên, bạn nên tìm đến các ngôi chùa, gặp quý Tăng Ni và hỏi xem, quý sư và Phật tử có thiếu, có cần loại Kinh sách gì không, số lượng bao nhiêu, rồi sau đó mới in ấn và đem cúng đúng những loại Kinh sách đó. Hoặc một cách khác đơn giản và rất thực tế, là bạn hãy đem chính cuốn " Bệnh viện trả về, Phật Pháp cứu sống" này photo thành nhiều bản, rồi tặng cho những người bệnh khác có hoàn cảnh giống như bạn. Đó sẽ là món quà vô giá đối với họ, vì quyển sách này không chỉ giúp người ta tăng thêm tri thức, mà còn là phương thuốc kì diệu chữa lành các căn bệnh của họ. 6-Tất cả các việc thiện khác Mọi việc thiện bạn làm đều sẽ giúp bạn giải trừ nghiệp chướng, mau chóng lành bệnh. Như xây chùa, đúc tượng Phật,hiến máu nhân đạo, bố thí tiền, gạo, thuốc men cho người nghèo, xây cầu đắp đường, thăm nuôi trẻ mồ côi.v.v... và v.v... Tuy nhiên, mỗi việc đều có cái khó riêng của nó, bạn phải tìm hiểu và suy xét kỹ về hiệu suất, tính thực tiễn, tính chân thực, cách thức làm… của mỗi việc trước khi thực hiện. ************************** Sau khi đã tạo công đức xong, việc cuối cùng là hồi hướng công đức. Ý nghĩa của việc hồi hướng là định hướng quả báo của những việc phước thiện bạn đã làm sẽ đi về đâu, nếu không phước báo sẽ tự đi theo cách của nó chứ không theo ý muốn của bạn. Nếu bạn là người bệnh và chính bạn thực hiện các việc phước thiện, thì bạn khấn như sau: “ Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật ! Nam Mô A Di Đà Phật ! Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát ! Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát ! Con nguyện đem công đức này sám hối tất cả các nghiệp chướng khiến con bị bệnh khổ như ngày nay. Nếu bệnh đây là do các oan gia trái chủ đến đòi nợ, xin hồi hướng công đức này cho các vị oan gia ấy để hóa giải mọi món nợ, mọi hận thù. Con nguyện tất cả các kiếp về sau sẽ đoạn trừ mọi điều bất thiện, tu tập tất cả các hạnh lành để cầu Phật Quả Tối Thượng. Xin chư Phật từ bi chứng minh cho con !" Nếu bạn là thân nhân của người bệnh, bạn cũng có thể làm các công đức rồi hồi hướng cho người bệnh. Có điều công đức đó bạn sẽ hưởng 6/7, còn người được hồi hướng sẽ chỉ nhận được 1/7 phước bạn làm. Có nghĩa là nếu người bệnh không tự thân làm công đức, thì người thân phải làm gấp 7 lần so với trường hợp người bệnh tự làm. Sau khi tạo công đức xong, bạn khấn như sau: " Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật ! Nam Mô A Di Đà Phật ! Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát ! Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát ! Con nguyện đem công đức này hồi hướng cho...(họ tên người bệnh) được tiêu trừ những nghiệp chướng trong quá khứ khiến cho ngày nay bị bệnh tật như thế. Nếu bệnh này là do các oan gia của ...( họ tên người bệnh ) đến đòi nợ, xin đem công đức này hồi hướng cho các vị oan gia ấy hóa giải mọi thù hận để cho ...(họ tên người bệnh) sớm ngày bình phục.Con nguyện vĩnh viễn về sau sẽ đoạn trừ mọi điều bất thiện, tu tập tất cả các hạnh lành để cầu Phật Quả Tối Thượng. Xin chư Phật từ bi chứng minh cho con !"
************************
Trên đây là 3 bước thiết yếu bạn cần thực hiện đầy đủ để dứt trừ tận gốc rễ các căn bệnh đang hành hạ bạn. Cả 3 bước đều quan trọng như nhau, bạn chớ nên xem nhẹ một bước nào mà bỏ qua, vì nếu bỏ qua bất kì bước nào, khả năng lành bệnh xem như không đảm bảo nữa. Vì nghiệp mỗi người có nặng, có nhẹ khác nhau, nên khi thực hành theo những phương pháp trong sách này, có người chỉ mới niệm Phật hay phát nguyện… sơ sơ, đã thấy lành bệnh rất nhanh, nhưng đa số phải lâu hơn rất nhiều, phải làm nhiều công đức hơn mới khỏi. Thế nên, bạn phải kiên trì và nghiêm túc thực hiện đúng theo các chỉ dẫn trong sách này, không nên chỉ tụng vài bộ Kinh, phóng sinh vài kg ốc mà mong bệnh phải khỏi ngay lập tức. Việc gì cũng cần có thời gian của nó. Và điều cuối cùng bạn nên biết, thực ra phương pháp được đề cập trong sách này không chỉ có mỗi tác dụng chữa lành bệnh tật, mà công dụng của nó là vạn năng. Chẳng qua vì hướng đến những người bệnh đang cầu thuốc , nên từ đầu sách tới giờ chỉ nói tới tác dụng trị bệnh, còn thực ra phương pháp này là giải trừ hết thảy các loại nghiệp chướng, tăng trưởng phước đức, khiến mọi điều mong cầu ( trừ những điều xấu ác ) đều được đạt như ý nguyện mong cầu. Cho nên thực hiện theo những phương pháp này , sẽ giúp quý vị có thể cầu cho cuộc sống được may mắn bớt tai ương, cầu sinh con, cầu tiêu tai giải hạn, cầu thi đỗ, cầu siêu cho thân nhân đã mất, cầu thay đổi vận mạng, cầu tìm người thân thất lạc.v.v… chỉ cần thay đổi ở lời khấn hồi hướng, quả báo sẽ đi theo ý nguyện của quý vị. Ví dụ bạn muốn cầu sinh con trai, thì sau khi sám hối, niệm Phật và làm các công đức khác, thì khấn “ Con nguyện nhờ công đức này , mà con sẽ sinh được con trai tài ba, đức độ hơn người.”, và cứ kiên trì làm vậy, bạn sẽ sinh được con như ý nguyện, những điều khác cũng tương tự như vậy.
“Lý thuyết hạnh phúc” của Einstein được bán với giá siêu kỷ lục
Nguyễn Xuân Xanh
•
Thứ Tư, 06/02/2019 • 8.1k Lượt Xem
Tại sao không ai hiểu tôi và mọi người lại thích tôi.
Albert Einstein
Thứ Ba ngày 24, tháng 10, 2017, sau câu chuyện sóng hấp dẫn, một sự kiện mới đầy ngạc nhiên xảy ra: Một trang giấy với một dòng chữ vỏn vẹn bằng tiếng Đức mà Einstein đã viết tay để làm quà tặng cậu bé phục vụ (bellboy) của Khách sạn Hoàng gia Tokyo – sau gần 100 năm – đã được bán đấu giá với mức giá có lẽ ngoài sức tưởng tượng mọi người: 1.56 triệu đô la Mỹ! “Chúng tôi hoàn toàn bị sốc, chúng tôi không tin điều đã xảy ra”, Avi Blumenthal, phát ngôn viên của Cty Bán đấu giá và Triển lãm Winner ở Jerusalem, tuyên bố. Nó cho thấy bức thư đã có sức hấp dẫn đặc biệt và hết sức bất ngờ không ai lường tới.
Sóng hấp dẫn của Einstein quả đã không thua kém sóng của hấp dẫn của vũ trụ mà ông đã tiên đoán. Nhưng nói cho cùng, điều đó không lạ lắm, bởi Einstein là con người đã từng tạo ra nhiều câu chuyện ngoài sức tưởng tượng. Nói đúng hơn, Einstein là một “con người ngoài sức tưởng tượng”, có thể tạo ra những cái “khùng điên” mà người đời không hình dung nổi.
Albert Einstein, nhà vật lý huyền thoại của thế kỷ 20.
***
Số là, tháng 11, năm 1922, Einstein được mời đến diễn thuyết ở Nhật Bản. Trên đường đi ông nhận tin được trao giải Nobel vật lý. Đến Tokyo, khi cậu bé đồng phục của khách sạn lên phòng để trao cho ông một cái gì đó, Einstein cảm ơn và muốn biếu cậu bé tiền tip, nhưng lại không có tiền. Ông bèn nghĩ ra một món quà hết sức độc đáo: Viết tặng ý tưởng đơn sơ sau đây trên tấm giấy có tiêu đề của khách sạn:
Cuộc sống tĩnh lặng và khiêm tốn mang lại nhiều hạnh phúc hơn là theo đuổi sự thành công đi kèm với bất ổn thường xuyên
[Stilles und bescheidenes Leben gibt mehr Glück als erfolgreiches Streben, verbunden mit beständiger Unruhe]
Trên mảnh giấy trắng thứ hai tặng cho cậu bé, Einstein ghi thêm dòng chữ:
Ở đâu có ý muốn, ở đó cũng có con đường
[Wo der Wille ist, da ist auch der Weg].
Bức thư Einstein được bán với giá siêu kỷ lục $1.560.000.
Theo lời thuật của Cty bán đấu giá, Einstein đã nói với cậu bé rằng, “hãy giữ chúng, giá trị của những những dòng này trong tương lai sẽ có thể cao hơn rất nhiều lần so với số tiền típ bình thường”. Sau gần 100 năm, quả đúng như thế, và đúng thất kinh luôn. Còn tấm giấy thứ hai cũng bán được 240.000 đô la với giá ước tính ban đầu là $6.000. Đó cũng là một giá rất cao so với giá bán cao nhất đạt được trước đó của bức thư Einstein gửi cho nhà vật lý học David Bohm là $84.000.
Chủ nhân của hai bức thư Einstein là người chắt trai của cậu bé đưa tin năm xưa, hiện đang sống tại Đức. Mấy tháng trước đó, khi nhìn thấy giá bán khá hấp dẫn của bức thư Einstein gửi cho Bohm đăng trên báo Đức – giá cao nhất cho đến thời điểm đó – ông bèn nghĩ đã có thể bán được di sản mà ông hằng lưu giữ.
***
Báo chí thế giới đưa tin khá nhiều, nhưng chưa có bình luận. Chúng ta muốn biết thêm: Einstein muốn gửi một thông điệp gì qua câu nói đó, và tại sao ông lại viết tặng cho cậu bé kia?
Nhưng trước tiên, vì sao có những giá bán cao như thế? Đó là kết quả của một sự cộng hưởng của nhiều yếu tố: Sự ngưỡng mộ và tình yêu thế giới một trăm năm qua dành cho ông không suy suyển; Ảnh hưởng của mùa sóng hấp dẫn đã hâm nóng lại tên tuổi của Einstein. Khắp nơi người ta biết và bàn về sóng hẫp dẫn. Một thế kỷ trước, Thuyết tương đối đã từng trở thành một từ cửa miệng trong văn hóa đại chúng. Sự khám phá sóng hấp dẫn cực kỳ yếu làm người ta nhớ lại sự kiểm tra độ lệch ánh sáng rất nhỏ ở gần mặt trời vào năm 1919. Einstein nổi tiếng đến nỗi ông từng nói: Mỗi tiếng bíp ở tôi đều trở thành một bản độc tấu kèn trompet.1 Ông không biết rằng, sau 100 năm, một dòng chữ viết tay đơn sơ của ông lại đáng giá cả triệu đô la, gây sửng sốt hơn cả bản tấu kèn trompet! Có phải thế giới “khùng” không? Không. Thế giới đang cần một vĩ nhân gần gũi với con người để ngưỡng mộ, một con người tuy yếu đuối như cây sậy của Pascal nhưng không biết cúi đầu trước những cơn gió bạo, đại diện cho chân lý, tự do, chính trực, và cho tình yêu hòa bình vĩnh cửu. Không ai thích hợp hơn Einstein, nhà khoa học cô đơn trên đỉnh cao tháp hải đăng, là một phần của vũ trụ, và cũng của đời thường.2
Nhưng có lẽ điều quan trọng hơn hết: Câu nói đó là viên ngọc bích của triết lý sốngcủa Einstein. Nếu là một nội dung khác, chưa chắc nó được cao giá như thế.
Chỉ còn yếu tố thị trường là ẩn số. Cũng như hai bức thư đó đi về đâu, không ai biết. Tương lai mới giúp trả lời.
Ảnh Einstein lúc đến Kobe, 43t, tay cầm ống điếu, không biết tay kia có xách cây đàn violin như lệ thường hay không.
***
Thông điệp nào Einstein muốn nhắn gửi, và tại sao cậu bé kia lại là người có diễm phúc được chọn làm “sứ giả”?
Hạnh phúc đơn sơ là quan niệm sống suốt đời của Einstein. Các phát biểu của ông từ thời trẻ cho đến những năm gần mất đều cho thấy nội dung bút tích về một cuộc đời “tĩnh lặng và khiêm tốn” là hoàn toàn nhất quán với triết lý sống của ông. Cho nên câu nói trên mảnh giấy chính là thông điệp về quan niệm cuộc sống hạnh phúc của ông chứ không phải một câu nói bình thường. Vì vậy nó có sức hút.
Cả đời, Einstein chỉ muốn có một cuộc sống đơn giản. Lúc còn là học sinh, ông đã từng viết trong một bài essay bằng tiếng Pháp:
Một người hạnh phúc sẽ quá hài lòng với hiện tại để nghĩ nhiều về tương lai. Nhưng mặt khác, bao giờ thanh niên cũng chính là những người bận rộn với những dự định táo bạo. Ngoài ra, cũng là một điều tự nhiên đối với một thanh niên nghiêm túc, rằng anh ta nên hình thành cho mình một ý tưởng rõ ràng như có thể về mục tiêu của những mơ ước của mình.3
Được hạnh phúc quá sẽ làm cho con người dễ quên đi những lý tưởng tương lai. Em gái Maja của Einstein đã từng kể về sự thờ ơ của Einstein đối với của cải vật chất mà những người khác thường coi trọng. Bà kể: “Khi còn trẻ anh tôi thường nói: ‘Tất cả những gì anh sẽ muốn có trong phòng ăn của anh là một cái bàn gỗ thông, một cái ghế dài, và vài chiếc ghế dựa.’” Thế thôi. Khi nổi tiếng rồi, Einstein vẫn còn “mơ” về một “vị trí của người giữ hải đăng” cho những người hoạt động khoa học, xem đó là nghề lý tưởng nhất. Ông chẳng màng vật chất lẫn danh vọng. “Mỗi sở hữu đều là một cục đá ở dưới chân. Không có gì tôi không từ bỏ được, bất cứ lúc nào” như ông viết.
Người ta có thể tìm thấy rải rác những câu nói khẳng định quan niệm hạnh phúc đơn sơ của ông. Vào những năm cuối đời, khi được hỏi về sự tự do của giới khoa học gia tại Mỹ trước chủ nghĩa McCarthy, ông đã trả lời: “Nếu tôi còn trẻ và đứng trước sự lựa chọn trong việc kiếm sống thì tôi sẽ không làm một nhà khoa học, bác học hay sư phạm, mà muốn trở thành một thợ ống nước hay một người bán hàng rong, trong hy vọng để giữ được sự độc lập khiêm tốn có thể còn tìm thấy được trong những điều kiện xã hội hiện nay.” Ông không hề biết sợ. Hay chẳng hạn những lần phát biểu khác của ông dưới đây:
Ở đâu mà thế giới thôi là sân khấu của hy vọng, mong ước và ham muốn cá nhân, ở đâu chúng ta đối diện với thế giới với tư cách là những con người tự do của tạo hoá để chiêm ngưỡng, tìm hiểu, và quan sát, ở đó chúng ta bước vào vương quốc của nghệ thuật và khoa học.
Tôi tin chắc rằng không tài sản nào trên thế giới có thể đưa nhân loại đi xa hơn, cho dù từ bàn tay của một người thật tận tụy với mục đích. Chỉ có tấm gương của các nhân cách vĩ đại và trong sáng mới có thể đưa đến những suy nghĩ và hành động cao cả. Tiền bạc chỉ thu hút cái vị kỷ và luôn dẫn tới sự lạm dụng không cưỡng lại được.
Nhà sử học Fritz Stern, bằng ngòi bút sắc bén, đã vẽ lên tính cách của Einstein rất sinh động:
Thực tế, chính tính đơn giản của ông, sự thanh thoát, gây ấn tượng lên con người. Quần áo ông đơn giản, diện mạo ông đơn giản đến từng chi tiết. Sự khiêm tốn ở ông là nổi tiếng – và đích thực, cũng như tính không vị kỷ. Có bao nhiêu nhà khoa học, hàn lâm (chỉ) yêu cầu một tiền lương thấp hơn lương được đề nghị? Ông là con người cô đơn, dửng dưng với các sự vinh danh, “vô gia cư” như chính ông thú nhận, lo lắng cho số phận của nhân loại… . Có lúc, ông xuất hiện như thánh Francis ở Assisi – một vị thánh cô đơn – lái thuyền buồm với vẻ ngây thơ, đôi mắt đượm buồn đăm chiêu và bối rối nhìn xa xăm.4
Có lẽ chính trong “cuộc sống tĩnh lặng và khiêm tốn” ông mới thấy khao khát chân lý, và đi tìm, một cách kiên trì: Thuyết tương đối hẹp ông tìm 10 năm, Thuyết tương đối rộng 8 năm, thuyết trường thống nhất 30 năm vẫn chưa kết thúc, nhưng trở thành di chúc mãi mãi cho nhân loại. Một người đầy những ham muốn vật chất và danh vọng giống như một tách nước đầy, sẽ khó có thêm chỗ cho chân lý. Nghe giống như chuyện thiền. Thực tế, làm khoa học là một dạng thiền với những mantra khoa học, cho nên cần một cuộc sống “tĩnh lặng và khiêm tốn”. Cuộc sống khác đi sẽ che lấp đi tầm nhìn đích thực, đưa ta đi xa khỏi cội nguồn sáng tạo bên trong.
Nhưng tại sao Einstein lại viết ra câu đó tại khách sạn sang trọng cho cậu bé? Có lẽ vì hình ảnh cậu bé sống hồn nhiên với cái nghề đơn sơ đã truyền cảm hứng cho ông, phù hợp với quan niệm một cuộc sống đơn giản của ông, nên khiến ông đã chọn cậu bé làm “sứ giả”.
Có lẽ còn thêm một nhân tố nữa. Bản thân Einstein đã gặp vô số bất ổn, ngay cả sự đe dọa tính mạng ông, chỉ vì sự nổi tiếng của ông – ngoài ý muốn – chứ không phải do ông đi tìm. Walther Rathenau, bộ trưởng ngoại giao của Cộng hòa Weimar, gốc Do Thái và là bạn thân ông, đã bị bắn chết ngay trên đường phố tháng 6 cùng năm. Đó là một sự báo động cho ông. Sau đó ông bỏ đi chu du để tránh sự chú ý ở Berlin, như nhiều người đã khuyên ông. Có lẽ sự bất ổn đã góp phần khiến ông lập lại triết lý về một cuộc sống đơn giản trên mảnh giấy?
***
Nhưng xa hơn, đằng sau “cuộc sống tĩnh lặng và khiêm tốn” có điều gì quan trọng mà Einstein muốn đạt tới không? Có, đó chính là hai chữ tự do – khát vọng sâu thẳm và cao cả xuyên suốt cuộc đời ông. Vâng, tự do đối với ông là mệnh lệnh cho cuộc sống. Einstein sẵn sàng đánh đổi tất cả để có cuộc sống tự do. Tự do để có nhân phẩm, để phát triển những phần thiên phú trong con người mà tạo hóa đã ban cho. Tự do để có khoa học, có nghệ thuật, để có chân, thiện, mỹ. Tự do là thiêng liêng. Ông là “người tự do nhất”, như nhà vật lý Mỹ Gino Segrè viết. “Chính tự do này đã đưa ông đến vị trí vinh dự và kính trọng mà thế giới dành cho ông như nhà khoa học vĩ đại nhất của thế kỷ hai mươi và một trong những con người vĩ đại. Ông thực ra là chủ nhân của số phận ông, cũng như là một lực lượng định dạng số phận của chúng ta”. Đúng như thế, “Không có tự do kia, sẽ không có Shakespeare, không có Goethe, Newton, không có Faraday và Pasteur. […] Vì chỉ con người tự do mới làm ra những khám phá và giá trị tinh thần, những thứ làm cho cuộc sống chúng ta, những con người hiện đại, trở nên đáng sống” như Einstein viết năm 1933.
Chúng ta sẽ không hiểu Einstein nếu không cảm nhận được tầm quan trọng của hai chữ tự do đối với Einstein là thiết yếu dường nào cho cuộc sống tinh thần – bao gồm tự do nội tâm và tự do đối với bên ngoài xã hội:
Để phát triển khoa học và hoạt động sáng tạo nói chung cần phải có một thứ tự do khác, người ta có thể gọi là tự do nội tâm. Đó là cái tự do của tinh thần thể hiện qua sự độc lập của tư duy trước các trói buộc của thành kiến, của quyền lực và xã hội, cũng như trước những trói buộc của suy nghĩ lệ thường và thói quen không phê phán. Tự do nội tâm này là một món quà hiếm có của thiên nhiên ban cho và là một mục tiêu đáng giá cho cá nhân. Cộng đồng cũng có thể đóng góp rất nhiều vào việc giáo dục tự do nội tâm này, bằng cách cộng đồng ít nhất không ngăn cản sự phát triển của nó. Trường học, bằng ảnh hưởng gia trưởng và bằng gánh nặng trí óc thái quá cho những cá nhân trẻ, có thể ngăn cản sự phát triển của tự do nội tâm, hoặc ngược lại bằng khuyến khích tư duy độc lập, sẽ tạo thuận lợi cho nó. Chỉ khi tự do nội tâm và tự do bên ngoài được vun xới một cách có ý thức và lâu dài thì mới có được điều kiện cho sự phát triển tinh thần, cho sự hoàn thiện và cải thiện đời sống nội tâm và bề ngoài.5
Cuộc sống đơn giản là đi liền với tự do nội tâm. Nhưng để có tự do bên ngoài, xã hội cần phải có khoan dung, và không được gây không khí sợ hãi:
Loại khoan dung quan trọng nhất vì thế là sự khoan dung của xã hội và nhà nước đối với cá nhân. Nhà nước dĩ nhiên là cần thiết, để bảo đảm cho cá nhân sự an toàn cho sự phát triển của nó, nhưng nếu nhà nước trở thành chính yếu, và từng cá nhân trở thành công cụ mù quáng của nó, thì những giá trị tinh túy hơn sẽ mất đi. Như ghềnh đá trước hết phải dạn dày sương gió để cây có thể mọc trên đó, cũng như miếng đất canh tác trước nhất phải được làm xốp đi, để nó có thể tạo nên sự mầu mỡ, thì tất cả những thành tựu giá trị chỉ đâm chồi từ một xã hội con người, khi nó đủ thông thoáng để tạo điều kiện cho từng con người sự phát triển tự do cho những khả năng của nó.6
Cho nên Einstein mới chấp nhận cuộc sống cô đơn, sự cô đơn có thể làm ông đau khổ trong thời trai trẻ, nhưng “trong những năm tuổi về chiều lại ngọt ngào”, như ông tự nói.
***
Chốc chốc Einstein lại lên tiếng như muốn nhắc nhở con người về ý nghĩa của một “cuộc sống tĩnh lặng và khiêm tốn”, và để cảnh báo trước sự ám ảnh và cám dỗ của sự thành công, quyền thế và vật chất, những thứ giết chết tự do, kềm hãm sự phát triển lành mạnh. Không có tự do nội tâm, con người sẽ cằn cỗi; và không có tự do đối với bên ngoài, con người sẽ èo ọt tinh thần. Xã hội, thế giới, không thể phát triển lành mạnh với những con người mà tâm thức bị sụp đổ, hay khô héo.
Nếu như khoa học của Einstein giống như một “nghi thức truyền tâm ấn, khoa học như một sự thỏa mãn tâm linh”, như nhà vật lý học Marcelo Gleiser nhận xét7, thì câu nói “cuộc sống tĩnh lặng và khiêm tốn” có lẽ cũng có thể được xem như một dạng “truyền tâm ấn” cho một cuộc sống hạnh phúc đích thực.
Einstein không muốn làm một người “truyền giáo”, nhưng thông điệp toát ra từ những gì ông viết, gần như có tính “truyền giáo”, cho một “tôn giáo” của đời thường. Ông không sống khổ hạnh như Thánh Francis, mà sống một cuộc đời “tĩnh lặng và khiêm tốn” bình thường. Có lẽ trong cậu bé, ông nhìn thấy một tâm hồn hồn nhiên và đơn giản, chưa bị che lấp bởi sương mù dục vọng. Chỉ có những đứa trẻ hồn nhiên mới dễ là những nhà triết học thơ ngây, mới dám đặt những câu hỏi táo bạo mà chưa cần những câu trả lời. Einstein đã từng đặt câu hỏi về ánh sáng lúc 16 tuổi mà chưa biết câu trả lời cho đến mãi mười năm sau ông tìm thấy nó trong thuyết tương đối hẹp. Người lớn đã mất đi tính hồn nhiên và tự phát. Họ đã trở thành những người “tuân giáo”, conformist, thuần thục của xã hội, mất đi con mắt tò mò để nhìn vượt khỏi khuôn khổ xã hội họ đang sống.
Einstein là một người sống đơn giản nhưng phong phú, như một “người nghèo mà rất giàu có”. Gandhi, người Einstein ngưỡng mộ suốt đời, cũng từng cổ xúy cho “đạo sống đơn giản”: “Hãy sống đơn giản để cho những người khác sống đơn giản.” Thánh Francis là người cũng từng dạy cho con người sống giản đơn bằng kinh thánh: Tôi kể cho quý vị chân lý, trừ khi quý vị thay đổi và trở thành những đứa trẻ nhỏ, quý vị sẽ không bao giờ bước vào vương quốc của Trời. Với Einstein, giữ được sự hồn nhiên và nhạy cảm của tâm hồm để ngưỡng mộ thế giới là điều kiện để bước vào vương quốc của vũ trụ, của “đạo vũ trụ”. Đối với ông, ai không biết rằng cái đẹp nhất là cái bí ẩn nhất của tạo hóa, nếu ai “không còn khả năng ngạc nhiên, sửng sốt trước nó, người đó coi như đã chết, ánh mắt đã tắt lịm đi.” 8
Ảnh chụp phơi sáng hệ Ngân Hà phía trên Biển Đen. (Ảnh: Jasmine K, Shutterstock)
Ngân Hà là mái nhà của 400 tỉ vì sao, trong đó có mặt trời và thái dương hệ chúng ta. Nó là môt thiên hà có hình xoắn ốc (spiral) với đường kính khoảng 120.000 năm ánh sáng. Ngân Hà thu hút không biết bao nhiêu sự chú ý của con người, từ nhà thơ đến các nhà thiên văn học và nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp hay tài tử.
Chúng ta nhớ lại, cái gì cuối cùng đã khai sáng con người? Cái gì đã tạo nên lý tính? Cái gì đã tạo ra khoa học hiện đại? Cái gì đã giải phóng chúng ta khỏi u mê? Cái gì đã tạo ra hình hài của con người? Đó chính là các tinh tú trên trời và vũ trụ. Chúng ta là một phần của vũ trụ, hay nói vui như một nhà hóa học ví dí dỏm, “sản phẩm tái chế từ bụi tinh tú”, nhưng biết tư duy. Ngạc nhiên, sửng sốt, wonder, là mở rộng trái tim trước vũ trụ, để học, suy ngẫm, nhìn thấy. Ngạc nhiên là con đường để thành người của chúng ta. Thế giới không phải để cho chúng ta tiêu pha, mà để chúng ta giải các bài toán, như ý tưởng tuyệt vời của Kant. Ngạc nhiên là mở rộng trái tim để nhận thêm năng lượng trí tuệ của vũ trụ, như cây cỏ, sinh vật nhận ánh sáng mặt trời, và để đánh thức trong chúng ta ý thức về một sự liên thông của đại gia đình vũ trụ mà con người là một thành viên. Và ngạc nhiên để chúng ta khỏi quên làm “những vị khách tốt, đi nhẹ nhàng trên hành tinh như các sinh linh khác của nó cùng sống chung trên đó” (Chỉ một trái đất của Hội nghị Môi trường Stockholm năm 1972).
***
Tại Hội chợ Thế giới New York tháng 8, năm 1938, tại Thành phố New York, Einstein được mời viết một thông điệp để đưa vào một “Capxun thời gian” (time capsule) chứa đựng nhiều hiện vật của thế giới loài người được chôn cất sâu xuống 15 mét cẩn thận, và sẽ chỉ được đào lên năm 6939, nghĩa là sau đúng 5.000 năm kể từ khi được niêm phong. Không biết lúc đó thế giới sẽ ra sao, con người vẫn còn là con người, văn hóa con người vẫn còn tồn tại, và người ta vẫn còn biết Einstein là ai? Hoa vẫn còn nở, chim vẫn còn hót, nhạc Bach, Mozart vẫn còn được yêu thích?
Những điều được trình bày trên đều có tính tư biện, phỏng đoán, nhằm cố gắng “giải mã” một bí ẩn của Einstein. Chúng ta chờ xem có thêm những nỗ lực khác hay không.
Nguyễn Xuân XanhCuối tháng 10, 2017
Đăng lại từ Rosetta.vn Mời độc giả ghé thăm để tìm hiểu thêm các bài viết của tác giả.
Chú giải:
1. Xem Albert Einstein, Mặt Nhân Bản, nxb Tổng hợp Thành phố HCM
2. Xem thêm EINSTEIN của Nguyễn Xuân Xanh, nxb Tổng hợp Thành phố HCM
3. Xem thêm Mặt Nhân Bản
4. Mặt Nhân Bản trong Lời dẫn nhập
5. Xem thêm EINSTEIN
6. Trong EINSTEIN, hay Mặt Nhân Bản
7. Xem Mặt Nhân Bản, Lời dẫn nhập
8. Xem thêm EINSTEIN
Tác giả:
Tác giả Nguyễn Xuân Xanh, sinh năm 1942, du học tại Cộng Hòa Liên Bang Đức từ 1966, ngành lý thuyết xác suất. Anh đã biên soạn sách và hợp tác với nhiều ngòi bút khác trong một số kỷ yếu khoa học :
– 2004 : Nước Đức thế kỷ thứ 19. Những thành tựu khoa học và kỹ thuật. Nxb TP HCM.
-2006 : Kỷ yếu GS Đặng Đình Áng (nhà toán học hiện đại đầu tiên phía Nam). Nxb Tri Thức.
-2007 : Sách EINSTEIN, nxb Tổng Hợp TP HCM.
-2007 : Kỷ yếu GS Hoàng Tuỵ. Nxb Tri Thức/ Phương Nam.
-2008 : Kỷ yếu Max Planck, kỷ niệm 150 năm ngày sinh. Nxb Tri Thức.
-2009 : Kỷ yếu 400 năm thiên văn và Galilei; 150 năm Thuyết tiến hoá và Darwin. Nxb Tri Thức.
-2011: Kỷ yếu Đại học Humboldt 200 Năm. Nxb Tri Thức.
Bằng phương pháp “Đồng vị phóng xạ”, một nhóm các nhà khảo cổ tiến hành khai quật tại 3 nơi được coi là có cùng niên đại 600 năm: (Moscow) Nga, Washington, D.C (Mỹ) và Ninh Bình (Việt Nam).
Địa điểm 1: tại Nga họ tìm được mấy mẩu dây đồng, họ kết luận: 600 năm trước người Nga đã có biết sử dụng điện thoại hữu tuyến sợi đồng.
Địa điểm 2: ở Mỹ tìm được nhiều mảnh thủy tinh có dạng sợi, họ cho rằng: 600 năm trước ở Mỹ đã có cáp quang.
Địa điểm 3: ở Việt Nam, các nhà khảo cổ đào bở hơi tai mà không thấy gì. Họ khẳng định: 600 năm trước, ở Việt Nam đã có mạng… không dây.
Câu chuyện cười trên có lẽ nhiều người đã từng đọc qua, nghe thì có vẻ hài hước, nhưng nó nói lên 2 điều rất quan trọng trong giới khảo cổ:
1/ Nếu chỉ vài chục năm trước, chúng ta chưa biết tới công nghệ không dây, thì kết luận đối với địa điểm thứ ba sẽ là “xã hội sơ khai lạc hậu” chứ không phải “mạng không dây” tiên tiến cao cấp. Như vậy, phán xét khảo cổ là dựa trên so sánh với hiểu biết của khoa học đương thời.
2/ Nếu khi khai quật không tìm thấy dấu tích của máy móc hiện đại, liệu kết luận sẽ là một xã hội phát triển cao cấp hay nguyên thủy? Đánh giá khảo cổ còn dựa trên niềm tin chủ quan, cái khung nhận thức của nhà khảo cổ.
Dưới khung thời gian biểu của giới khảo cổ hiện nay, nhân loại chỉ phát triển theo một đường thẳng từ thấp lên cao, từ nguyên thủy săn bắt hái lượm, dần dần cho đến chúng ta hiện nay là “đỉnh cao” của nền văn minh. Nhưng hiện nay khoa học đã ngày càng phát triển, cộng với đó là những khám phá khảo cổ mới, cho thấy đã từng có những nền văn minh cổ đại phát triển vượt xa chúng ta, công nghệ của họ đúng là một loại “mạng không dây” như trong câu chuyện bên trên nhắc tới.
Dưới đây chúng ta sẽ bàn về 2 nền văn minh nổi tiếng và thảm họa mà họ đã phải đối mặt để thấy được cả một nền khoa học bị lãng quên.
Thành phố Atlantis và sự chuyển giao công nghệ
Hình vẽ mô phỏng thành phố Altantis, thủ phủ của lục địa Atlantis (ảnh: atlantisbolivia.org)
Câu chuyện xưa cũ về thành phố Atlantis chìm dưới đáy biển là một trong những truyền thuyết lâu đời nhất mà con người từng biết đến. Nhưng ở thời điểm hiện tại, chúng ta có thể khẳng định khá chắc chắn về sự tồn tại của Atlantis, kèm theo vị trí chính xác của thành phố cổ đại này.
Theo lời kể của nhà triết học Hy Lạp Plato, thời gian mà Atlantis bị hủy diệt là năm 9.600 TCN. Đây cũng là thời điểm xảy ra Trận lũ băng tan 1B (Meltwater pulse 1B). Khi đó, nước biển tăng mạnh vào cuối kỷ Dryas Trẻ, khi các tảng băng ở Bắc Âu và Bắc Mỹ rung chuyển và tan vào đại dương.
Vị trí của thành phố Atlantis – thủ phủ của lục địa Atlantis là ở bình nguyên Altiplano tại Bolivia. Altiplano là vùng đất không chỉ đáp ứng 24 tiêu chí về Atlantis mà nhóm các nhà khoa học tại hội nghị Milos Atlantis 2005 đưa ra, mà còn phù hợp với 50 đặc điểm mà Plato đề cập đến trong mô tả của của ông về Atlantis. [1]
Bình nguyên Altiplano ở Bolivia nằm trên dãy núi Andes ở Nam Mỹ (ảnh: atlantisbolivia.org)Thành phố Altantis nằm trên phế tích Pampa Aullagas, ngay cạnh bình nguyên Altiplano, cách biển (hồ Poope) 2,5km (ảnh: atlantisbolivia.org)Mảnh ghép vẽ bản đồ Thế giới Mới của Sebastian Münster, phiên bản thứ 2, năm 1961, có tên “Insula Atlantica” – “Đảo Atlantic” (ảnh: atlantisbolivia.org)Chi tiết bản đồ của Münster chỉ rằng “Thế giới Mới” là “Đảo Atlantic”, cũng được biết đến như Brasil và Mỹ” (ảnh: atlantisbolivia.org)
Như vậy, các bằng chứng về Atlantis đã khá đầy đủ.
Năm 9.600 TCN còn là thời điểm bắt đầu xây dựng một công trình cự thạch quy mô lớn còn lưu lại đến ngày nay. Đó là ngôi đền Gobekli Tepe ở Thổ Nhĩ Kỳ. Nếu xét trên khung thời gian biểu của giới khảo cổ, nó xuất hiện vào thời săn bắt hái lượm, trước khi xuất hiện thành thị hay nền văn minh. Vậy mà đây lại là một dự án quy mô lớn với nhiều vòng tròn đá khổng lồ, các khối cự thạch 40-60 tấn – chắc chắn phải có công nghệ, kỹ năng tổ chức cao cấp, quản lý nhân công, quy hoạch… Tất cả đều không phù hợp với bức tranh về thời đó.
(ảnh: Shutterstock)
Năm 9.600 TCN cũng là thời điểm nông nghiệp bỗng xuất hiện trong lịch khảo cổ của Thổ Nhĩ Kỳ, đã phát triển hoàn thiện một cách kỳ lạ dù trước đó không có dấu hiệu gì. Do vậy, ngôi đền Gobekli Tepe hẳn không phải là do ai đó bỗng dưng phát minh ra kiến trúc cự thạch và nông nghiệp giữa xã hội săn bắn hái lượm ở Thổ Nhĩ Kỳ khi đó. Theo nhà nghiên cứu nổi tiếng Graham Hancock, đây nhiều khả năng là một sự chuyển giao công nghệ từ những người sống sót trong một nền văn minh đã thành thục các kỹ năng cần thiết. Họ có thể đã dạy lại cho những người bạn ở vùng đất mới. [2]
Vậy phải chăng những người sống sót trong thảm họa Atlantis đã cố gắng ghi lại dấu tích hay thậm chí phục dựng lại nền văn minh của họ? Graham Hancock cho rằng, rất có thể là vậy. Họ đã không thành công lắm, nhưng họ cũng đạt được những kết quả nhất định. Họ đã có một công trình khổng lồ kỳ vĩ lưu lại thông điệp cho hậu thế và mang ngành nông nghiệp tới vùng đất hoang sơ.
Bài học của Atlantis
Theo lời kể của Plato, thành phố Atlantis từng sở hữu nền văn minh cao cấp, nền nông nghiệp phát triển, tàu của họ đi khắp thế giới. Người dân Atlantis từng rất cao thượng và tài ba, họ đã xây những công trình to lớn và phát triển kiến thức uyên thâm trong mọi lĩnh vực, trở nên rất thịnh vượng và hùng mạnh. Nhưng rồi, sự suy đồi đã len lỏi vào xã hội làm họ trở nên xấu xa và tham lam. Họ bắt đầu truy cầu và lợi dụng quyền lực trên thế giới.
Plato nhấn mạnh rằng: Atlantis đã không còn hưởng thụ thịnh vượng với sự điều độ nên có.
Sự ngạo mạn đã làm cho Atlantis trở nên quá tự mãn, để rồi sau đó vũ trụ đã làm cho nó sụp đổ. Đại hồng thủy và động đất đã dìm thành phố sâu xuống lòng đại dương.
‘Con người phải bắt đầu lại, như những đứa trẻ không có ký ức của quá khứ’ – Plato
Rõ ràng, câu chuyện Atlantis là một bài học cho nền văn minh hiện đại. Chúng ta nên bỏ sự kiêu ngạo sang một bên và thôi tự mãn với các thành tựu công nghệ của mình.
Chúng ta thực sự có lẽ nên xem lại thái độ của mình đối với những câu chuyện lịch sử của tiền nhân. Giới hàn lâm đã quá nhanh chóng phủi tay và cho rằng họ đã hiểu biết tất cả mọi thứ, rằng chẳng còn gì bí ẩn trong câu chuyện đó. Nhưng tư duy đó sẽ ngăn chúng ta tìm hiểu sâu hơn. Chúng ta nên lắng nghe các manh mối của quá khứ dẫn đến các nền văn minh to lớn.
Không chỉ Atlantis, đối với các nền văn minh, các thành phố hay quốc gia trong lịch sử như Ai Cập cổ đại thời Cleopatra VII, Babylon cổ đại, Pompeii…[3], một mô-típ cứ lặp đi lặp lại:
Khi đạo đức suy đồi, xã hội sẽ bị diệt vong
Nếu đạo đức là một yếu tố tinh thần, thuộc về văn hóa, cách hành xử giữa người với người, vì sao sự sụp đổ của nền văn minh luôn gắn với đạo đức bị suy đồi? Câu chuyện về một nền văn minh cận đại hơn sẽ giúp lý giải câu hỏi này.
Đại Vũ trị thủy và sự chuyển giao công nghệ
Thời của Noah khi mà trận Đại hồng thủy xảy ra, theo tính toán dựa vào Kinh thánh, thì vào khoảng năm 2304 TCN (+/- 11 năm) [4]. Khi đó ở phương Đông cũng chính là thời của vua Thuấn và truyền thuyết Đại Vũ trị thủy. Đại Vũ sinh năm 2297 TCN, là người lập ra triều nhà Hạ. [5]
Đại Vũ cùng những người giúp đỡ ông trị thủy (ảnh: Internet)
Truyền thuyết nói rằng cách đây khoảng bốn ngàn năm, thần nước đã giận dữ và mở một cái lỗ lớn ở trên trời làm mưa đổ trút xuống như sông, dâng cao đến hai nghìn mét, làm ngập Trái Đất qua rất nhiều năm. Khi Đại Vũ lớn lên và nhìn thấy người dân đau khổ khủng khiếp vì nước lũ, ông đã quyết định kiềm chế nó. Đại Vũ đã bỏ 13 năm cố gắng kiềm chế lũ, đã bao bọc được một khoảng rất rộng lớn, làm cơ sở cho nền văn minh Trung Hoa sơ khai phát triển.
Lịch sử đã đi qua, chỉ lưu lại rất ít dấu vết để chúng ta có thể xác nhận chắc chắn những câu chuyện cổ. Nhưng những khám phá khảo cổ mới đã cung cấp thêm bằng chứng:
Hàng trăm truyền thuyết ở khắp thế giới đều giống nhau một cách kinh ngạc khi nói đến trận Đại hồng thủy.
Tàn tích của con tàu Noah đã được tìm thấy tại Thổ Nhĩ Kỳ [6]
Con tàu nằm ở độ cao gần 2.000m thuộc dãy núi Ararat, gần biên giới Iran – Thổ Nhĩ Kỳ.
Dưới lòng đất có thể tồn tại những đại dương lớn, đây rất có thể chính là nơi nước đã rút đi sau Đại hồng thủy. [7]
Có nhiều thành phố cổ đại chìm dưới đáy đại dương, được tìm thấy khắp nơi trên Trái Đất. Chúng có tuổi thọ hàng nghìn năm, cho thấy chắc chắn chúng đã được xây dựng từ khi mà mực nước còn rất thấp. [8]
Ở Trung Quốc, bằng chứng về một trận lũ khủng khiếp vào thời đại của Đại Vũ cũng được tìm thấy. [9]
Như vậy, ít nhất chúng ta đã có một vài sự trùng khớp giữa khoa học hiện đại và các truyền thuyết cổ đại. Rốt cuộc chỉ là vấn đề người ta có tin hay không mà thôi.
Câu chuyện ở Trung Hoa nói lên rằng, ít nhất đã có một nhóm người ở các vùng núi cao nơi đây đã sống sót qua thảm họa. Trong khi ở phương Tây, nền văn minh phải phát triển lại từ đầu.
Câu chuyện Đại Vũ giải thích vì sao trong nền văn hóa phương Đông cổ đại, vẫn còn rất nhiều kiến thức cao thâm như Thái Cực, Hà Đồ, Lạc Thư, Chu Dịch, Bát Quái… mà đến khoa học hiện đại vẫn còn chưa lý giải hoàn toàn được.
Cũng giống như trường hợp của Atlantis, đó chính là những tinh hoa của khoa học trong nền văn minh trước, đã được những người sống sót truyền lại, một nền khoa học siêu thường, rất khác so với nền khoa học duy vật ngày nay. Nhưng thật ra đó chính là những lời dạy rất quen thuộc trong nền văn hóa phương Đông.
ADVERTISEMENT
Nền khoa học siêu thường chú trọng đạo đức
Thời cổ đại mấy nghìn năm trước, người Trung Hoa thường giảng rằng khi làm việc cần phải bình tâm tĩnh khí, chú trọng tới điều hòa hơi thở, thậm chí người đi học ở trường cũng cần biết thiền định, chú trọng tu tâm dưỡng tính.
Các ngành các nghề thời Trung Hoa cổ đại cũng đều giảng phải coi trọng đạo đức. Trong lĩnh vực sáng tác văn học có tôn chỉ rằng, coi trọng đức là yêu cầu đứng đầu nhất. Ở phương diện sáng tác âm nhạc cũng coi đạo đức là cái gốc của nội tâm con người, âm nhạc là sự thăng hoa của đạo đức. Ở phương diện trị quốc cũng nêu cao việc phải coi trọng đức, tiết chế tài chính, tuyển dụng người hiền đức…
Ngày nay, có rất nhiều thành quả nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng, sức mạnh của đạo đức là không chỉ ở cảm nhận mà còn “chạm” đến được, bởi vì:
Phàm là lời nói hay việc làm mà phù hợp với chuẩn tắc đạo đức thì đều có thể sản sinh ra tác dụng tích cực đối với mọi vật chất trong thế giới này.
Người phương Đông cổ đại từ lâu đã đúc kết điều này thành những lời khuyên thực tế: “Tướng do tâm sinh, cảnh tùy tâm chuyển”. Nó mang hàm nghĩa vô cùng sâu sắc, và ngầm chỉ ra rằng điều then chốt để vượt qua bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào chính là ở tâm thái, vạn sự thành bại đều là ở tâm niệm, do đó cần luôn giữ cho tâm tĩnh lặng, hòa ái, từ bi… Vận mệnh của một người có thể được cải biến cho tốt hơn nếu “tâm” của người đó thay đổi tích cực hơn.
Hiện nay nền khoa học phương Tây đang ở ngưỡng cửa nghiên cứu về ý thức và các siêu năng lực của con người.
Bắt đầu từ “cuộc cách mạng lượng tử” khoảng 70 năm về trước, nhiều nhà khoa học đã tìm ra sự tương đồng đáng ngạc nhiên giữa các kết quả nghiên cứu của họ và một số bí ẩn hay gặp trong tôn giáo. Heisenberg, Bohm, Schrodinger, Eddington, Einstein – những nhà khoa học nổi tiếng – tất cả đều có quan điểm rằng thế giới là huyền bí và thuộc về tinh thần.
Theo nhà nghiên cứu tâm thần nổi tiếng David Hawkins (Hoa Kỳ), tùy theo cảnh giới tinh thần mà mỗi người có một tần số rung động khác nhau, từ 1-1000 Hz. Sự đau khổ, tuyệt vọng và oán thán có tần số thấp, khiến người ta mang bệnh, và ngược lại, hòa ái từ bi có tần số cao khiến mọi người khỏe mạnh, hạnh phúc. Điều này chẳng phải một cách nói khác của câu “tướng do tâm sinh, cảnh tùy tâm chuyển”?
Các cảnh giới khác nhau có năng lượng khác nhau
Như vậy, khoa học ngày nay đã đủ để lý giải một số khía cạnh trong những kiến thức cổ xưa. Nhưng để tiến xa hơn, chúng ta còn phải xét tới một bộ phận rất quan trọng mà nhiều tín ngưỡng đều nhắc đến:
Con mắt thứ ba – phương tiện của khoa học cổ đại
Để nhận thức vũ trụ, người xưa đã biết khai mở “con mắt thứ ba” – vốn là một bộ phận có sẵn trong cơ thể con người. Con mắt này, vốn nằm tại thể tùng quả trong bộ não, có khả năng vượt xa đôi mắt thông thường.
Thể tùng trong bộ não người (ảnh: Telese Winslow)
Đã từ lâu, các nhà khoa học đã nhận ra sự tương đồng giữa thể tùng và con mắt. Nhiều người trong số họ cho rằng thể tùng chính là một con mắt thoái hóa. Năm 1919, Frederick Tilney và Luther Fiske Warren trong một báo cáo đã công bố những đặc điểm tương đồng giữa thể tùng và con mắt người, khiến nó nhạy cảm với ánh sáng cũng như có các khả năng thị giác khác.
Cuốn tự truyện có tựa đề “The Third Eye” (Con mắt thứ ba) của lạt ma Tây Tạng Lobsang Rampa đã diễn tả cuộc phẫu thuật được tiến hành tại vị trí ấn đường (chỗ giao của hai hàng lông mày) của ông, giúp khai mở một số năng lực siêu thường chưa từng có trước đây.
Những người thực hành tu luyện còn cho rằng con mắt thứ ba của trẻ em từ 6 tuổi trở xuống rất dễ được khai mở và nhìn rất rõ ràng do các bé rất ngây thơ và trong sáng. Thanh niên trưởng thành rất khó khai mở mắt thứ ba do ham muốn vào “thất tình lục dục” của họ là rất lớn. Giải thích này khá trùng hợp với phát hiện của giới khoa học: trẻ em dưới 6 tuổi thì thể tùng ít bị vôi hóa, còn thanh niên trưởng thành hầu hết có thể tùng bị vôi hóa. [11] Điều này có thể lý giải tại sao chỉ các nhà sư đắc đạo, các lạt ma Tây Tạng hay những người tu luyện tâm tính một cách chân chính mới có thể sở hữu những năng lực siêu thường.
Những người thực hành tu luyện có các phương pháp khai mở con mắt này. Khi đó, tùy theo đặc điểm của từng người mà họ có thể có thể xuất hiện những năng lực đặc biệt như: nhìn thấy các cảnh tượng từ xa (dao thị), nhìn thấy được quá khứ và tương lai (túc mệnh thông), thậm chí đọc được ý nghĩ người khác (tha tâm thông)… Trong các câu chuyện cổ của Phật giáo đều có ghi lại các khả năng này, mà hiện nay nhiều nghiên cứu khoa học cũng đã xác nhận được. [12]
Chính vì sở hữu những năng lực siêu thường như vậy, nên thời Trung Hoa cổ đại, kiến thức đã đạt đến mức rất cao và uyên thâm.
3 quyển sách “Thiên – Địa – Nhân”
Cổ thư còn ghi chép lại, các kiến thức cao thâm được sáng tạo ra trong thời cổ đại Tam Hoàng Ngũ Đế mà Đại Vũ là vị vua cuối cùng của thời đó. Tam Hoàng chỉ Phục Hy, Nữ Oa và Thần Nông. Ngũ Đế là Hoàng Đế, Viêm Đế, Nghiêu, Thuấn, Vũ.
Thần Nông, thủy tổ của nông nghiệp và Đông y (tranh vẽ qua Epoch Times)
Có thể kể tới 3 quyển sách “Thiên – Địa – Nhân” xuất hiện trong thời đại này mà còn truyền tới ngày nay. [13]
“Kinh Dịch” được ví là Thiên Thư, cuốn sách này có thể tương thông với Trời, Thần và tương lai, từ cổ chí kim nó đã triển hiện khả năng dự đoán thần kỳ, chứa đựng nội hàm bác đại tinh thâm. Thiên Đạo được giảng trong sách chính là khởi nguồn của văn hóa, nó chỉ ra quy luật của vũ trụ, trong chớp mắt có thể nhìn thấu thế gian, 64 quẻ trong Kinh Dịch bao quát hết thảy mọi thứ trên thế giới, bao gồm cả sự phát triển của công nghệ thông tin ngày nay.
“Sơn Hải Kinh” được ví là Địa Thư, ghi chép lại địa lý toàn cầu, từ trước trận đại hồng thủy quyển sách đã đề cập đến bốn biển năm châu. Trong “Sơn Hải Kinh”, “Hải Nội Kinh” là phần viết về địa lý Trung Hoa, còn “Hải Ngoại Kinh” là phần viết về địa lý toàn cầu. Các chuyên gia khoa học đều xác thực điều này, quyển sách đã triển hiện ra một thời đại thần kỳ, khoa học kỹ thuật lúc đó phát triển hơn bây giờ rất nhiều. Hơn nữa, quyển sách còn ghi lại những đặc tính, Thần tính và hình thái của sinh mệnh ở các vùng địa lý khác nhau tại thời kỳ đó.
“Hoàng Đế Nội Kinh” được ví là Nhân Thư – quyển sách khởi nguồn của trung y. “Nội Kinh” mô tả rất chi tiết từ âm dương ngũ hành, cho đến kinh lạc của thân thể người. Mọi người đều là lương y, đều có khả năng tự bảo vệ sức khỏe của mình, nếu dùng để trị bệnh cho người khác thì cũng rất dễ dàng. Những ghi chép về kinh lạc được viết trong Hoàng Đế Nội Kinh thì khoa học ngày nay mới chỉ chứng minh được sự tồn tại [14], tuy nhiên Đông y đã tiến hành trị bệnh bằng châm cứu và thuốc bắc từ hàng ngàn năm nay, đều dựa theo nguyên lý âm dương và kinh lạc.
Kinh lạc là những lạp tử vật chất vi quan hơn tế bào và phân tử, khoa học hiện đại khó có thể phát hiện ra. Nhưng thời xa xưa, rất nhiều người đã khai mở thiên mục (con mắt thứ ba), như Kỳ Bá (nhân vật trong Hoàng Đế Nội Kinh) có thể nhìn thấy kinh lạc trên cơ thể người và, tất nhiên có thể dễ dàng vẽ lại những kinh lạc đó.
Thời bấy giờ có rất nhiều người am hiểu dưỡng sinh, biết thiên Đạo, hiểu được đạo lý âm dương, và hợp với yêu cầu của thuật số trong trời đất, ăn uống đều có chừng mực, làm việc và nghỉ ngơi có quy luật, không làm quá sức mình, tinh thần và thể chất của họ có thể được giữ vững, vì vậy mọi người đều sống lâu.
Nhân loại hiện đại đã đạt được nhiều thành tựu trong y học nhờ vào nghiên cứu sinh học phân tử; hiện tại sinh học nguyên tử cũng đang được xem xét. Vậy đến các hạt nhỏ hơn – sinh học proton, hạt nhân nguyên tử, nếu chúng ta làm chủ được sinh học ở mức độ hạt quark, neutrino thì sẽ thế nào? Hiện tại cũng có rất nhiều nghiên cứu nhằm kéo dài tuổi thọ con người, đều muốn nghiên cứu đến các tầng vi quan. Người cổ đại vận dụng thiên mục có thể tự mình nghiên cứu tới các hạt vật chất vi tế hơn, khả năng họ tìm ra cách kéo dài tuổi thọ là hoàn toàn khả thi.
Nói đơn giản thì “công nghệ” của người cổ đại còn mạnh hơn công nghệ nano mà chúng ta đang có gấp nhiều lần, chỉ là họ không sử dụng nhiều loại máy móc điện tử phức tạp mà thôi. Một loại “mạng không dây” như trong câu chuyện cười nói đến.
Thời kỳ này đa số là người thường nhưng cũng có rất nhiều người siêu thường, họ có thần thông quảng đại. Đối với con người hiện đại mà nói, điều này quả là huyền hoặc, nhưng người thời đó không cảm thấy kinh ngạc, đó là thời đại mọi người đều tin vào Thần, Thần tích thường xuất hiện không có gì kỳ lạ.
Nhờ các nghiên cứu về “con mắt thứ ba”, chúng ta đã lý giải được về một số khả năng siêu thường của con người, nhưng còn về Thần thì lý giải thế nào?
Lý giải về các vị Thần
Thần là ai? Là những sinh mệnh nắm giữ nền khoa học cực cao, có thể làm những điều mà con người không thể lý giải, nên đành gọi chúng là “phép màu”, huy động năng lượng vô cùng to lớn để thay đổi, biến hóa vật chất. “Công nghệ” của họ không dựa trên sự phát triển máy móc điện tử và vật lý cơ học, mà là dùng tinh thần để huy động năng lượng to lớn của lượng tử, không chỉ phân tử, nguyên tử, electron, quark, neutrino… mà chúng ta biết hiện nay, mà có thể còn đến tầng tầng các hạt vi tế hơn. Mà như chúng ta đã biết, hạt lượng tử càng vi tế thì năng lượng càng cao, do đó sức mạnh mà họ huy động được nằm ngoài sức tưởng tượng của con người hiện nay.
Đó là lý giải theo phương diện vật chất. Mà vật chất và tinh thần là thể thống nhất, do đó về tinh thần thì họ có đặc điểm là đạo đức cực kỳ cao thượng.
Thần Osiris và Isis của Ai Cập (ảnh: Internet)
Người Atlantis tín thờ thần biển Poseidon, các vương triều Ai Cập thờ thần Osiris, Isis và nhiều vị thần khác… Trong lịch sử của họ, những nhân vật này đều từng xuất hiện trên mặt đất và tạo lập ra nền văn minh. Trong nền văn minh của chúng ta, chẳng phải các thánh nhân như Giê-su, Phật Thích Ca, Lão Tử… cũng từng xuất hiện, đặt định ra các tôn giáo lớn và lưu lại rất nhiều câu chuyện màu nhiệm hay sao?
Chúng ta cần thoát khỏi cái khung tư duy của nền học thuật hiện nay thì mới nhìn ra được, bởi tu luyện là một hệ thống nghiên cứu hoàn toàn khác: không dựa trên duy vật thực chứng, mà là khoa học “tự chứng ngộ” (self-science – trải nghiệm thế giới nội tâm của bản thân) trong đó đặt ý thức, tinh thần vào trọng tâm nghiên cứu. Phương pháp của họ không phải dựa trên lập đi lập lại thí nghiệm nhiều lần trong phòng thí nghiệm, mà chính bản thân họ phải tự trải nghiệm (thiền định, tĩnh tâm, chứng ngộ…) và tu luyện chính mình trong quá trình đó.
Theo “Chuyển Pháp Luân” – cuốn sách chỉ đạo tu luyện từng đứng trong top 10 tác phẩm nổi tiếng nhất Trung Quốc những năm 1990 [15], danh từ “Buddha” xuất phát từ tiếng Phạn, tiếng Ấn Độ cổ. Sau này khi Phật giáo truyền sang Trung Quốc, người ta dịch ra thành “Phật Đà” rồi lâu dần đọc gọn lại thành “Phật”. Ý nghĩa cổ xưa của nó chính là chỉ người đã tu luyện mà đạt được giác ngộ, là người đã hoàn thành quá trình tu luyện của mình. Ở đây hoàn toàn không có mang màu sắc mê tín hay tôn giáo nào cả.
Con người hiện đại có thể tu luyện hay không?
Người ta thường quan niệm rằng tu luyện thì phải xuất gia vào chùa, bỏ lại sau lưng tất cả những sự việc của cõi hồng trần; hoặc như các đạo sư hoặc lạt ma Tây Tạng trên núi tuyết, có thể ngồi thiền và sử dụng phương pháp hít thở mà ung dung tự tại trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên… Họ chọn một con đường gian khổ như vậy không phải là không có lý do.
Tu luyện vốn không phải chuyện đơn giản, nhưng trong xã hội phồn hoa ngày nay, có lẽ chẳng mấy ai có thể đi theo con đường như vậy. Liệu có thể ngay giữa cuộc sống đời thường đầy cám dỗ, vẫn sinh hoạt nơi xã hội hiện đại mà thực hành tu luyện chân chính hay không?
Theo nguyên lý tu luyện giữa đời thường của Pháp Luân Công – một môn khí công Phật gia được truyền xuất ra tại Trung Quốc từ những năm 90 – căn bản của tu luyện là tu tâm tính. Đó là một quá trình mà người ta sẽ dần dần vứt bỏ các tâm chấp trước (tâm xấu) của mình, cũng là quá trình tu sửa bản thân: gặp bất kể vấn đề gì đều đối chiếu với tiêu chuẩn “Chân – Thiện – Nhẫn” để xét xem mình đã làm đúng chưa, mình còn chỗ nào làm chưa tốt, chứ không đổ lỗi hay tìm nguyên nhân ở bên ngoài. Sau này, khi gặp lại vấn đề, người tu luyện sẽ làm được tốt hơn. Trong xã hội đời thường, nếu ai ai cũng đều “tìm ở bản thân” để tu sửa như vậy, xã hội sẽ giảm đi rất nhiều xung đột, và đạo đức cũng sẽ nâng cao trở lại. Mỗi người đều tự ước thúc hành vi của chính mình thì có khi cũng không cần cảnh sát nữa.
Khoa học tu luyện – sợi chỉ xuyên suốt các nền văn minh
Không chỉ ở Trung Hoa cổ đại, khắp nơi trên thế giới đều lưu lại dấu tích của những người tu luyện. Họ chính là những người khai sáng văn minh, “những ảo thuật gia của Thượng Đế” mà nhà nghiên cứu Graham Hancock nhắc đến trong một quyển sách best-seller của ông.
Dấu tích đó chính là đồ hình chữ Vạn, tiếng Phạn gọi là Swastika, là biểu tượng chữ thập ngoặc 卍. Đồ hình này được hiểu theo tiếng Phạn có nghĩa là “phúc lộc, an khang, thành công, thịnh vượng”.
Không chỉ phổ biến trong một số tín ngưỡng phương Đông, chữ Vạn cũng từng là biểu tượng phổ biến trong văn hóa phương Tây. Hơn nữa, chữ Vạn đã từng là biểu tượng của các tín ngưỡng trong một số nền văn minh tiền sử đã bị hủy diệt. [16]
Biểu tượng chữ Vạn được tìm thấy trên bức tượng hình chú chim tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Ukraine (ảnh: decacs-inc.com)
Những dấu tích khảo cổ này đã chứng minh rằng, từ hàng chục ngàn năm trước, đã xuất hiện các nền văn minh từng tồn tại trên thế giới và họ cũng tín ngưỡng các vị thần, trong đó có cả các vị Phật. Khi đó, biểu tượng chữ Vạn cũng là biểu tượng phổ biến của các nền văn minh này.
Tu luyện, đó cũng chính là lời giải cho ẩn đố sâu xa của cõi nhân sinh, là sợi chỉ xuyên suốt các nền văn minh từ cổ chí kim, là “công nghệ mạng không dây” của một nền khoa học bị lãng quên. Bởi vật chất và ý thức là một thể thống nhất, nên nhân loại chỉ có con đường đề cao đạo đức, thăng hoa tâm tính trong tu luyện mới có thể tiếp cận được bí ẩn của vũ trụ, thời gian-không gian và nhân thể. Đây có thể là con đường duy nhất và nhanh nhất mà khoa học thực chứng còn rất xa mới động chạm đến được.
Kỳ thực, càng biết về các nền văn minh tiền sử, chúng ta sẽ càng có một loại cảm giác ngậm ngùi. Năm tháng bể dâu, những gì đã từng là huy hoàng của cả một thời đại, giờ chỉ còn lưu lại một vài công trình đá hay các câu chuyện truyền thuyết mà thôi.
Trên thực tế, rất nhiều lời tiên tri nổi tiếng trên thế giới đều chỉ nói đến thời kỳ này của nhân loại rồi cũng sẽ chấm dứt. Nếu như không phải tất cả họ đều thông đồng để lừa chúng ta, thì sao họ lại đều chỉ nói đến cùng một thời đại ngày nay?
Vậy chúng ta nên làm gì? Có một câu nói của Trung Hoa cổ đại còn lưu lại:
“Thời thịnh thế trữ đồ cổ, thời loạn thế mua vàng kim, thời mạt thế phải tu hành.”
Phong Trần, Thiện Tâm tổng hợp
Tài liệu tham khảo:
[1] Cuộc tìm kiếm thành phố Atlantis: Địa điểm duy nhất đáp ứng tất cả tiêu chí – Trí Thức VN
[2] The truth about Atlantis – Graham Hancock on London Real
[3] Xã hội dâm loạn và sự diệt vong của 3 nền văn minh cổ đại – Trí Thức VN
[4] The Date of Noah’s Flood – creation.com
[5] Đại Vũ trị thuỷ (chỉnh lý) – chanhkien.org
[6] Liệu có phải ‘con tàu của Noah’ đã được tìm thấy ở Thổ Nhĩ Kỳ? – Trí Thức VN
[7] Có thể tồn tại đại dương rộng lớn trong lòng Trái Đất – Trí Thức VN
[8] Tàn tích hùng vĩ của 5 thành phố cổ đại chìm sâu dưới đáy đại dương – Trí Thức VN
[9] Bằng chứng đầu tiên về cơn đại hồng thủy của Trung Hoa 4.000 năm trước – Trí Thức VN
[10] Vật chất và ý thức là một thể thống nhất – Trí Thức VN
[11] Age-related incidence of pineal calcification detected by computed tomography – R A Zimmerman, L T Bilaniuk – Radiology, 1/3/1982
[12] Thiền định có thể sản sinh siêu năng lực – Trí Thức VN
[13] Ngũ hành và lịch sử Trung Hoa – chanhkien.org
[14] Khoa học cuối cùng cũng chứng minh được sự tồn tại của kinh mạch – Trí Thức VN