Thứ Ba, 8 tháng 1, 2019

Tư tưởng Hồ Chí Minh - Ngày 1

Chương mở đầu: Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa học tập tưởng Hồ Chí Minh.
I) Đối tượng và nhiệm vụ học tập tư tưởng Hồ Chí Minh.
1) Khái niệm và hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.
a) Khái niệm: 
- Là 1 hệ thống những quan điểm, luận điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam từ Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (Cách mạng giải phóng giải tộc) đến cách mạng xã hội chủ nghĩa.
- Là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mac-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam đồng thời nó còn là sự kết tinh tinh hoa, văn hóa của dân tộc và trí tuệ của thời đại nhằm giải phóng dân tộc tiến tới giải phóng giai cấp, giải phóng con người thông qua $2$ mục tiêu là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội hay nói cách khác, nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Câu hỏi: Nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là gì ?
Trả lời: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
b) Hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh (học tài liệu thầy gửi).
2) Đối tượng và nhiệm vụ học tập tư tưởng Hồ Chí Minh
a) Đối tượng môn học tư tưởng Hồ Chí Minh
- Là toàn bộ hệ thống những quan điểm, luận điểm của Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam nhằm giải phóng dân tộc tiến đến giải phóng giai cấp, giải phóng con người đồng thời đối tượng của nó còn là sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh qua các giai đoạn cách mạng để đề ra đường lối, chiến lược, sách lược đúng đắn, đảm bảo cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi.
b) Nhiệm vụ học tập tư tưởng Hồ Chí Minh (học tài liệu thầy gửi).
II) Phương pháp nghiên cứu và học tập tư tưởng Hồ Chí Minh.
1) Cơ sở phương pháp luận:
a) Cơ sở phương pháp luận chung:
- Là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
b) Những quan điểm có tính chất phương pháp luận của Hồ Chí Minh, bao gồm:
- Quan điểm thống nhất giữa tính Đảng và tính Khoa học.
- Quan điểm thực tiễn và nguyên tắc gắn liền với thực tiễn.
- Quan điểm thống nhất biện chứng giữa lập trường giai cấp( lợi ích giai cấp) và lập trường dân tộc (lợi ích dân tộc).
- Quan điểm toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm cụ thể.
- Quan điểm kế thừa, phát triển, sáng tạo, đổi mới.
- Quan điểm: "Dĩ bất biến, ứng vạn biến".

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2019

Quan niệm về ăn chay của các danh nhân thế giới

Quan niệm về ăn chay của các danh nhân thế giới

"Tôi khẳng định rằng thịt không phải là thức ăn thích hợp với con người. Chúng ta không nên sai lầm chạy theo lối sống của các loài cầm thú, nếu chúng ta tự coi mình cao thượng hơn các loài cầm thú đó"

quan niem ve an chay cua cac danh nhan the gioi

01. Peter Burwash

Một hôm nọ, nhà vô địch quần vợt Peter Burwash đến viếng một lò sát sanh. Khi ra về ông đã bất nhẫn mà viết những cảm nghĩ của mình trong một quyển sách nhan đề là A Vegetarian Primer (Sách dạy ăn chay). Có đoạn ông viết: "Tôi không nỡ bóp nát một cánh hoa mong manh. Tôi đã chơi hockey với hết sức bình sanh của mình. Tôi cũng đã từng vùng vẫy và dọc ngang trên các sân quần vợt trong những trận thư hùng. Tôi không phải là loại người yếu đuối. Nhưng trước cảnh tượng mà tôi đã chứng kiến tại lò sát sanh, tôi thấy mình kinh khiếp và lòng mình mềm yếu vì thương hại". 

quan niem ve an chay cua cac danh nhan the gioi

"Khi tôi rời khỏi lò sát sanh, sự tội nghiệp đã dày vò lương tâm tôi. Tôi thầm nhủ sẽ không bao giờ có đủ can đảm đi sát hại một con vật dù lớn dù nhỏ. Tôi hiểu rằng có những nhân vật lỗi lạc trên thế giới họp nhau để bàn cãi về các vấn đề vật lý, kinh tế và môi sinh. Cũng có một số người có quan điểm tán đồng với chủ thuyết ăn chay. Song điều làm cho tôi chọn lấy con đường chay lạt không phải chạy theo chủ thuyết này hay chủ thuyết nọ mà chính vì những cảnh dã man mà con người đã đối xử một cách tồi tệ với các loài vật không phương tự vệ mà tôi đã tận mắt chứng kiến".

Trong thời kỳ cổ Hy Lạp và cổ La Mã, lòng từ bi và những quan niệm về sự đối xử đạo đức luôn luôn là những nguyên động lực chủ yếu khiến một số danh nhân khép minh trong việc thọ trì trai giới.

02. Pythagore

Ông Pythagore, nhà toán học lừng danh trên thế giới đã từng khuyên nhủ:

"Này bạn, xin đừng làm nhơ nhớp thân thể của mình bằng những thức ăn tội lỗi. Chúng ta đã có bắp, bôm, lê, rau trái thừa thải, sữa và mật ong ngọt lịm. Quả đất này đã cung ứng cho chúng ta những thức ăn vô tội một cách dồi dào, đã khoản đãi chúng ta bằng những bữa tiệc không can dự vào máu. Chỉ có loài thú này mới ăn thịt loài thú khác vì bản năng tự nhiên và vì đói. Nhưng không phải tất cả loài thú nào cũng vậy. Bởi vì trong số đó cũng có các loài như bò, ngựa và trừu... đều ăn cỏ".

quan niem ve an chay cua cac danh nhan the gioi

Sử học gia Diogenes kể rằng, ông Pythagore dùng điểm tâm buổi sáng bằng bánh mì và mật ong và dùng bữa ăn chiều với nhiều loại rau quả. Ngài cũng đã thể hiện lòng từ bi bác ái qua những hành động thực tiễn bằng cách nhiều lần trả tiền cho một số ngư phủ để phóng sanh những con cá mà họ đã bắt được trở về lòng biển cả.

Ông Plutarch, triết gia người Hy Lạp nhận xét về ông Pythagore như sau: "Theo tôi sự từ tâm là lý do chính khiến ông Pythagore kiêng thịt. Ông không nỡ nhìn cảnh dẫy dụa và kêu rống thất thanh của những con vật khi bị người ta phanh thây xẻ thịt. Người ta giết những con vật đó không phải vì lý do chúng là thú dữ có khả năng nhiễu hại loài người, mà chính vì mục đích để thỏa mãn khẩu vị của họ mà thôi. Người ta bức tử những con vật ngây thơ không móng vuốt để tự vệ mà đáng lý ra theo luật Tạo Hóa, chúng cũng có quyền sinh tồn, bình đẳng và hiện diện để làm đẹp quả địa cầu này như tất cả mọi loài". Ông còn nhấn mạnh: "Nếu bảo rằng bản tính tự nhiên của loài người là ăn thịt các loài thú, thì thử hỏi chỉ với hai bàn tay trắng do Tạo Hóa sinh ra, mà không cần đến sự trợ lực của dao, mác, hèo, gậy, con người đã làm được gì các loài thú đó?"

03. Leonard Da Vinci
 
quan niem ve an chay cua cac danh nhan the gioi
 
Ông Léonard Da Vinci (1452 - 1519), nhà danh họa và điêu khắc gia người Ý, đồng thời cũng là một thi sĩ nổi tiếng trên thế giới quan niệm ăn chay là đạo đức của con người. Sự ăn chay sẽ tránh được những tội ác về sát sinh. Ông còn nhấn mạnh rằng những ai không biết quý trọng sự sống của những sinh vật khác là những kẻ không đáng sống. Cơ thể của những người ăn mặn không khác gì những bãi tha ma để chôn vùi xác chết các thú vật mà họ đã ăn vào. Trong các quyển vỡ nhật ký, ông thường viết đầy những câu danh ngôn về lòng từ bi bác ái và luôn luôn có những hành động quý thương các loài sinh vật khác.

04. Jean Jacques Roussean 

quan niem ve an chay cua cac danh nhan the gioi
 
Ông Jean Jacques Rousseau (1712 - 1778), triết gia và là một văn hào người Pháp đã có những tác phẫm giá trị về mặt tư tưởng đã ảnh hưởng sâu xa đến nền văn học và cuộc cách mạng lịch sử tại quốc gia này. Ông là người chủ trương bênh vực sự hiện hữu của thiên nhiên và cổ xúy sự ăn chay. Ông nhận xét rằng phần đông những loài thú ăn thịt có bản tính hung tợn hơn những loài thú ăn cỏ. Và dĩ nhiên những người ăn chay trường sẽ hiền từ hơn những người ăn mặn. Ông còn đề nghị những người hành nghề đồ tể không được mời vào làm bồi thẩm đoàn tại các tòa án.

05. Adam Smith 

quan niem ve an chay cua cac danh nhan the gioi

Kinh tế gia Adam Smith (1723 - 1790), trong quyển The Wealth of Nations xuất bản vào năm 1776 đã khuyến khích loài người ăn chay và đã thuyết minh về sự lợi ích của việc thọ trì trai giới. Ông bảo rằng việc ăn mặn xét ra không cần thiết cho nhu cầu dinh dưỡng của con người. Chúng ta đã có ngũ cốc, rau quả, phó mát, dưa và dầu thực vật. Đó là những thức ăn cung cấp cho chúng ta những chất dinh dưỡng dồi dào. Thịt đối với chúng ta sẽ không nghĩa lý gì nếu chúng ta ăn chay đầy đủ và đúng cách. 

06. Benjamin Franklin

quan niem ve an chay cua cac danh nhan the gioi

Cùng một quan niệm trên, ông Benjamin Franklin (1706 - 1790), một khoa học gia và là một chính trị gia nổi tiếng của Hoa Kỳ, người đã bắt đầu ăn chay từ năm 16 tuổi đã bảo rằng nhờ ăn chay mà cơ thể của ông được trong sạch, tinh thần của ông được minh mẫn, trí óc của ông được tiến bộ và sự hiểu biết của ông được nhanh chóng hơn. Trong một bài tự thuật, ông có bình phẩm những người ăn mặn là những kẻ cố sát.

07. Percy Bysshe Selley

quan niem ve an chay cua cac danh nhan the gioi

Thi sĩ Percy Bysshe Shelley (1792 - 1822) cũng là người ăn chay trường. Ông chủ trương chống báng việc sát hại súc vật để cung cấp thịt cho dân chúng tiêu thụ. Ông đã có lòng vị tha và bắt đầu ăn chay trường từ hồi còn là một sinh viên tại trường Đại học Oxford. Sau này ông thành hôn với bà Harriet. Cả hai vợ chồng đều chấp nhận một cuộc sống chay lạt thanh khiết. Trong một bức thư đề ngày 14-3-1812, bà Harriet đã tâm sự với một người bạn: "Vợ chồng chúng tôi đã kiêng thịt và ăn chay trường như ông Pythagore vậy". Một số thi phẩm của ông Shelley thường mang tính chất vị tha bác ái, khuyên nhủ mọi người tránh việc sát sanh, nên ăn chay và sống một cuộc đời thanh cao tốt đẹp. 

08. Leon Tolstoi

quan niem ve an chay cua cac danh nhan the gioi

Văn hào nước Nga Léon Tolstoi (1828 - 1910) đã thọ trường chay từ năm 1885. Ông chống đối thú săn bắn của một số giai cấp quý tộc và trưởng giả. Ông cũng chủ trương không sát sanh, chủ trương chủ thuyết hòa bình và ăn chay, tôn trọng sự sống của các loài sinh vật khác kể cả con ong và loài kiến. Ông tiên đoán những bạo động xảy ra triền miên trên thế giới chỉ vì loài người không biết tự chế tham vọng của mình. Sự kiện càng ngày càng tệ hại hơn và có thể xảy ra những cuộc chiến tranh khốc liệt làm xáo trộn cuộc sống an bình của nhân loại. Trong bài tham luận The First Step (Bước đầu tiên), Léon Tolstoi bảo rằng những người ăn thịt là những kẻ phản đạo đức và "phạm tội sát sinh". Ông nói thêm: "Sự sát sinh đã làm cho những người vốn có một tâm hồn cao thượng, có lòng vị tha đối với mọi người như đối với chính bản thân mình, trở thành những kẻ hung bạo".

09. Richard Wagner

quan niem ve an chay cua cac danh nhan the gioi

Nhà soạn nhạc Richard Wagner tin tưởng mạnh mẽ rằng sự sống của mọi loài đều có tính cách bất khả xâm phạm. Ông bảo: "ăn chay là một sự dinh dưỡng thuần hợp với bản chất thiên nhiên, cứu vớt con người xa lánh những tâm địa và hành động tội lỗi, đồng thời ông cũng mong ước sau này sẽ được hóa sinh về nơi an lạc đời đời".

10. Henry David Thoeau

quan niem ve an chay cua cac danh nhan the gioi

Ông Henry David Thoreau (1817 - 1862), văn hào Hoa Kỳ có khuynh hướng chống áp bức nô lệ, chủ trương một cuộc sống thanh bình và thuận lý thiên nhiên. Ông là người ăn chay định kỳ từ thuở nhỏ, đã bảo rằng: "Chúng ta không có trách cứ những người ăn mặn. Thực ra vì sự sinh tồn, loài người có thể sát sinh trên một bình diện nào đó. Nhưng đây là một biện pháp bất khả kháng và rất đáng thương tâm. Những người ăn mặn cần phải được hướng dẫn để cải thiện dần đường lối mưu sinh của mình, để họ tự ý thức và tự chọn lựa cho mình những thức ăn chay thanh đạm và cao khiết hơn. Theo sự suy nghiệm của bản thân tôi thì những sự kiện đó can dự một cách quan trọng vào vấn đề vận số của con người. Tôi tin rằng điều kiện ăn uống có thể cải thiện được. Xuyên qua tiến trình lịch sử của nhân loại, chúng ta há chẳng thấy những bộ lạc ăn thịt người từ thuở xa xưa, ngày nay họ không còn ăn thịt lẫn nhau vì đời sống càng ngày càng văn minh hơn và con người trong những bộ lạc đó đã có ý thức hơn".

11. Mohanda Gandhi
quan niem ve an chay cua cac danh nhan the gioi
 
Trong lịch sử Ấn Độ vào thập niên 1940 và 50, nhà cách mạng bất bạo động Mohanda Gandhi đã dành lại chủ quyền cho đất nước từ trong tay thực dân Anh Quốc. Ông đã từng vào tù ra khám và được nhân dân nước Ấn tôn thờ là bậc Thánh nhân, cũng là người đã ăn chay từ thuở nhỏ. Thân sinh của ngài vốn theo đạo Hindus nên gia đình của ngài là một gia đình đạo đức và tất cả đều ăn chay theo giáo lý tốt lành của tôn giáo đó. Song dưới sự cai trị của Anh Quốc, những tư tưởng tân tiến Tây phương đã ảnh hưởng mạnh mẽ và dần dần đánh bạt một số phong tục cổ truyền của nước Ấn.

Một số thanh niên thời bấy giờ đã chê bai việc ăn chay trường và thờ đạo bản xứ là hủ lậu nên họ học đòi theo lối sống Tây phương trong đó có việc ăn thịt được họ hăm hở chấp nhận hơn cả. Số người này còn khuyến dụ ông Gandhi theo trào lưu mới như bọn họ, nhưng đã bị ông từ chối. Do đó ông đã trở thành nạn nhân của sự chê bai gièm xiễm. Họ bảo rằng ăn thịt sẽ tăng cường sức khỏe, nghị lực và lòng can đảm. Nhưng ông Gandhi vẫn khăng khăng giữ vững lập trường của mình không hề xao xuyến. Không những thế ông còn viết tất cả 5 quyển sách chuyên về đề tài ăn chay và khuyên mọi người trì giới. Ông bảo: "Đã đến lúc chúng ta cần phải sửa sai một số tư tưởng lầm lẫn cho rằng ăn chay sẽ làm cho tinh thần chúng ta bị bạc nhược, thụ động và nhụt chí phấn đấu. Dù trong tình huống nào, tôi vẫn không xem việc ăn thịt là cần thiết".

Hàng ngày ông Gandhi thường dùng giá lúa mạch, bột hạnh nhân, rau xanh, chanh và mật ong trong những bữa ăn thanh đạm. Chính ngài bảo đã tìm thấy những nguyên lý và giá trị đạo đức của sự ăn chay qua các tác phẩm của nhà văn Tolstoi. Trong quyển Moral Basis of Vegetarianism (Căn bản đạo đức của chủ thuyết ăn chay), ngài viết: "Tôi khẳng định rằng thịt không phải là thức ăn thích hợp với con người. Chúng ta không nên sai lầm chạy theo lối sống của các loài cầm thú, nếu chúng ta tự coi mình cao thượng hơn các loài cầm thú đó". Ngài cũng bảo chính lòng từ bi là nguyên động lực khiến người ta ăn chay và tránh sát sinh hơn là vì lý do sức khỏe Ngài bảo sự tiến bộ về tâm linh đến một mức nào đó, con người sẽ tự ý thức và thương hại mà không giết chóc những sinh vật bạn bè của chúng ta để thỏa mãn nhu cầu của khẩu vị.

12. Bernard Shaw

quan niem ve an chay cua cac danh nhan the gioi
 
Kịch tác gia nổi tiếng Bernard Shaw (1856 - 1950) đã được giải thưởng về văn học nghệ thuật Nobel năm 1925. Ông cũng ăn chay trường từ năm 25 tuổi. Ông bảo chính những thi phẩm của Shelley đã làm cho ông thức tĩnh và thấy được sự đạo đức trong vấn đề chay lạt. Ông bảo có lần ông bị bịnh. Bác sĩ khuyến cáo ông hãy bỏ "cái tật xấu ăn chay" đó đi. Nếu không ông sẽ toi mạng vì kiệt sức. Nhưng ông vẫn bất chấp. Ông cũng mặc kệ trước những mỉa mai của bàng dân thiên hạ, vô công rổi nghề. Ông bảo chúng ta không nên quan tâm về sự dèm pha của số người chuyên ăn các thây ma của thú vật ấy. Ông thường trước tác những kịch bản và những văn phẩm liên hệ tới hành vi đạo đức của con người, tới sự sát sanh và những bạo động trên thế giới.

13. Albert Einstein

quan niem ve an chay cua cac danh nhan the gioi

Albert Einstein (1879 - 1955), nhà bác học nổi danh của thế kỷ thứ 20. Người đã phát minh ra thuyết tương đối và được tặng giải Nobel về vật lý học năm 1921 cũng là một người ăn chay trường. Tuy ông chánh thức không theo tín ngưỡng nào nhưng là một người rất sùng đạo. Ông tin có Thượng Đế và vũ trụ này được điều khiển bởi một cơ Trời huyền diệu. Nếu không thì mọi sự vận hành trong vũ trụ sẽ loạn lên và không theo một quy luật nhất định. Ông là một người yêu chuộng hòa bình, tôn trọng sự sống của muôn loài và đã từng phát biểu: "Không gì ích lợi cho sức khỏe của con người để có cơ hội sống lâu trên quả địa cầu này bằng cách ăn chay".

14. Isaac Bashivis

quan niem ve an chay cua cac danh nhan the gioi

Văn hào Isaac Bashivis Singer (sinh năm 1904), từng đoạt giải thưởng văn học nghệ thuật Nobel năm 1978 đã thọ chay trường từ năm 1962. Lúc đó ông vừa đúng 58 tuổi. Ông bảo ông rất lấy làm hối tiếc vì đã kéo dài thời gian ăn mặn quá lâu. Nhưng thà muộn còn hơn chẳng bao giờ ăn chay cả. Ông nghĩ rằng thuyết ăn chay để tránh sát sanh cũng cũng cùng hòa hợp với sự uyển chuyển huyền vi của Do Thái giáo. Ông bảo: "Chúng ta đều là con cái của Thượng Đế. Trong khi chúng ta cầu xin Thượng Đế tha tội cho chúng ta, thì ngược lại chúng ta cứ tiếp tục phạm tội sát hại sinh mạng của những động vật khác".

Đề cập tới tình trạng sức khỏe có thể bị ảnh hưởng bởi sự ăn chay, ông bảo rằng dó là hoàn toàn dựa trên ý thức của loài người. Ông cương quyết bảo: "Ngay cả việc ăn mặn có tốt cho cơ thể như thế nào chăng nữa, tôi sẽ không bao giờ chấp nhận. Rất nhiều triết gia và các nhà truyền giáo trên thế giới đã rao giảng với tín đồ của họ rằng loài thú chẳng qua chỉ là những cái máy không linh hồn và không cảm giác. Những lời rao giảng như vậy là một sự nói láo, là sáng kiến và chủ trương của bọn ma vương và tà đạo mà thôi".

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2019

Vị thế và không gian (I): Luận về cội nguồn nghệ thuật

Vị thế và không gian (I): Luận về cội nguồn nghệ thuật

21/10/2011 16:04 - Phạm Trần Lê
Ngay từ khi ra đời, bản năng đầu tiên của con người là xác nhận không gian xung quanh thông qua hơi thở, âm thanh, hình ảnh, những tiếp xúc va chạm. Tất cả những tín hiệu cơ bản tạo cơ sở để con người định vị bản thân mình, định vị không gian, và bắt đầu hướng tới một vị thế cân bằng. Và kể từ đó, quá trình này sẽ lại mỗi khi bước vào một không gian mới mẻ bất kỳ.
Vị thế

Trong thế giới tự nhiên vạn vật đều thường trực đi tìm vị thế của chúng.

Một vật vô tri như hòn đá cũng biết tự lăn từ trạng thái bất cân bằng sang vị thế cân bằng. 

Những cá thể nào không tìm thấy tương quan cân bằng trong nội tại và với không gian quanh nó ắt sẽ bị loại bỏ, hay nói đúng hơn là buộc phải chuyển sang tồn tại ở một dạng khác. Trong môi trường nhiệt độ quá cao dưới lòng đất, cứng rắn như đá cũng bị tan chảy do không thể tự cân bằng trong nội tại.  

Trong thế giới sinh vật, tất cả mọi cá thể cũng đều phải nỗ lực hết mình để tồn tại, duy trì một chỗ đứng trong bầy đàn và quần thể sinh thái. Vị thế ấy cũng phải cân bằng. Nếu không, sớm muộn cá thể ấy sẽ bị bầy đàn, kẻ thù, hoặc môi trường đào thải.  

Không gian

Vị thế luôn gắn với không gian. Vị thế của một đối tượng bất kỳ là tương quan giữa đối tượng ấy với không gian chứa đựng nó. 

Không gian là gì? Đối với con người, không gian là một khái niệm phức tạp đa nghĩa. Một khoảng không có thể được coi là không gian. Một khoảng không với đầy ắp các sự vật chứa trong nó cũng đồng thời là không gian, như không gian nhà trường hay không gian văn phòng cơ quan. Có cả những không gian trừu tượng như không gian trong ánh mắt, không gian hoài niệm, không gian xã hội, không gian văn hóa. Đa phần không gian trong tâm tưởng con người đều ít nhiều hàm chứa cả chiều thời gian.

Năng lượng và cảm xúc

Năng lượng nảy sinh từ vị thế bất cân bằng. Hòn đá bị xô nghiêng thì tiềm ẩn trong nó thế năng. 

Tương tự như vậy, một sinh vật trong vị thế sắp bị tiêu diệt sẽ bùng phát ý chí cầu sinh. Cảm xúc là một dạng năng lượng trong tinh thần.
 
Cội nguồn cảm xúc của người
  
Khổng Tử xưa kia từng dùng âm nhạc để dạy học trò về Lễ. Tiếc rằng thứ nhạc Lễ ấy của Khổng Tử giờ không còn nữa. Giả dụ ngày nay còn được nghe loại nhạc này, hẳn bố cục các âm thanh của nó có thể đem lại cho chúng ta những trải nghiệm sâu sắc về vị thế trung dung của người quân tử trong thiên hạ.
Ngay từ khi ra đời, bản năng đầu tiên của con người là xác nhận không gian xung quanh thông qua hơi thở, âm thanh, hình ảnh, những tiếp xúc va chạm. Tất cả những tín hiệu cơ bản tạo cơ sở để con người định vị bản thân mình, định vị không gian, và bắt đầu hướng tới một vị thế cân bằng. Và kể từ đó, quá trình này sẽ lại mỗi khi bước vào một không gian mới mẻ bất kỳ.

Cảm xúc của người xuất phát từ vị thế của người đó trong không gian.

Khi đang yên vị mà bất thần bị mất cân bằng, người ta sẽ hụt hẫng và hốt hoảng, thậm chí đau đớn.

Tiếng khóc đầu đời của con người vừa là một bản năng tự vệ - hơi thở đầu tiên của đứa trẻ sau lọt lòng mẹ - cũng đồng thời là phản ứng tự nhiên để tự cân bằng trong tinh thần của một sinh linh.

Khi trong xu hướng dần xa rời vị thế cân bằng, người ta buồn bã, rã rời. 

Khi trong xu hướng đạt tới vị thế cân bằng, người ta dễ chịu, vui vẻ.

Khi bất thần cảm thấy mất cân bằng, nhưng nhận thấy mình sẽ lập tức trở về vị thế cân bằng, hoặc bỗng nhận ra mình vẫn đang ở vị thế cân bằng, người ta bật cười nắc nẻ.   

Khi bị mất chủ động và lạc từ không gian này sang không gian khác, người ta nôn nao. Giống như cảm giác khi ai đó bước chân vào cửa một phòng họp với bài trình bày hệ trọng trước đám đông mà chưa chuẩn bị đủ lý lẽ.

Cảm xúc của người luôn phản ánh vị thế của người đó trong không gian, dù là không gian hiện hữu có thật hay không gian trong tâm tưởng.

Giải mã bí ẩn của nghệ thuật 

Âm nhạc có từ cổ xưa nhưng không ai biết vì sao những âm thanh và giai điệu của chúng lại khuấy động thành cảm xúc. Vì sao âm nhạc dù không lời vẫn có thể khiến người ta mỉm cười hoặc bật khóc? 

Bí ẩn ấy vốn thật đơn giản.

Bằng việc sắp xếp bố cục giai điệu âm thanh qua các nốt cao và thấp, tiết tấu nhanh và chậm, các nhạc sỹ đã gieo vào lòng người nghe những vị thế khác nhau của không gian trong tâm tưởng.

Nghe khởi đầu bản giao hưởng số 9 của Beethoven, thính giả cảm thấy choáng ngợp và nôn nao, đó là do âm nhạc của người nghệ sỹ đã tài tình sử dụng độ chênh giữa các nốt, và độ chênh giữa tiết tấu bản nhạc so với nhịp thở thông thường của con người, để lôi tuột chúng ta vào một vị thế chơi vơi trong tâm tưởng.

Sự sắp xếp bố cục các ấn tượng trong không gian một tác phẩm nghệ thuật, dù đó là âm nhạc, hội họa, kiến trúc, văn học, hay điện ảnh, tất thảy đều tạo thành cảm xúc được là nhờ những bố cục ấy gieo vào lòng người thưởng thức những vị thế khác nhau trong không gian. Cùng một câu chuyện, nhưng kể thế nào để người đọc cảm thấy gay cấn, hồi hộp, đó là cái tài của nhà văn sắp xếp luân chuyển các không gian sự vật, và biết cách thắt, mở một cách phù hợp.

Chúng sinh ngụp lặn trong không gian ảo 

Đời sống khắc nghiệt luôn có những sức ép. Khi không chịu được sức ép, người ta tìm đến những không gian ảo, nơi có thể dễ dàng hơn trong việc đạt được một vị thế cân bằng. Không gian ảo dễ chịu hơn không gian thật nên chúng sinh, trong đó có con người, đều ngụp lặn trong không gian ảo. 

Đâu dễ để phân biệt giữa không gian ảo, không gian thật, khi mà tất cả đều là do những tín hiệu của não bộ tạo thành sự hình dung trong tâm tưởng. 

Càng khó hơn khi cái ảo quá phong phú, đa dạng. Một chén rượu, một liều thuốc kích thích, hay đơn giản chỉ là một suy nghĩ bay bổng. Nghệ thuật cũng góp phần đắc lực tạo ra những không gian ảo.

Chiều thời gian và đẳng cấp nghệ thuật

Con người luôn ít nhiều có thiên hướng tìm cái thật, bỏ cái ảo. Mức độ ít nhiều đó tùy thuộc vào khả năng cảm nhận chiều thời gian. Khi cảm thấy rõ rệt sự biến đổi mạnh mẽ của sự vật qua thời gian, người ta nhận ra sự mong manh của những gì giả tạm, và tìm đến những gì bền vững hơn. Thiên hướng ấy trong nhu cầu của con người, dù ít dù nhiều, là cơ sở để phân định đẳng cấp nghệ thuật. Bởi vì, một tác phẩm nghệ thuật đẳng cấp luôn mang đến những rung động phong phú và lâu bền cho người thưởng thức.   

Nghệ sỹ bậc thầy

Từ khi đặt nét cọ đầu tiên trên toan trắng, họa sỹ đi tìm cho nó một vị thế, vị trí nhát cọ ở đâu, màu sắc như thế nào, độ đậm nhạt ra sao, là do cảm xúc của người nghệ sỹ và công phu tài năng quyết định. 

Người nghệ sỹ bậc thầy cần sở hữu hai phẩm chất. Thứ nhất, người đó đạt đến trình độ “thân kiếm hợp nhất”, tức là có khả năng biểu đạt được xúc cảm một cách tinh tế, chính xác, và trọn vẹn ra tác phẩm. Thứ hai, cảm xúc của người đó đến từ những trải nghiệm sâu sắc qua vô vàn những không gian thật, ảo trong đời sống. 

Được như vậy thì trên toan vẽ không chỉ đơn thuần là những nét cọ. Nó là vô vàn những rung động phong phú và phức tạp một cách sống động. Những rung động ấy gieo vào lòng người xem những cảm nhận mới mẻ về bản thân và các không gian của đời sống quanh mình, thậm chí thay đổi hoàn toàn cách nhìn của họ đối với thế giới.

Trong đó, có thể có những rung động mạnh mẽ, âm vang hơn tất thảy, đồng điệu với rung động trong nội tâm của nhiều người thưởng thức trong một thời đại, hay thậm chí nhiều thời đại.   

Như vậy, người nghệ sỹ bậc thầy là kẻ cùng ngụp lặn giữa những không gian ảo trong tâm tưởng như mọi chúng sinh linh khác, tạo ra các tác phẩm là những không gian ảo như công việc của mọi nghệ sỹ bậc thầy khác, nhưng tác phẩm của một bậc thầy sẽ luôn thuyết phục được nhiều thế hệ người xem, bằng những luồng rung động vô tận. 

(Đón xem phần 2: luận về cội nguồn tôn giáo và khoa học)

Vị thế và không gian (II): Luận về cội nguồn tôn giáo và khoa học

Vị thế và không gian (II): Luận về cội nguồn tôn giáo và khoa học

24/10/2011 09:23 - Phạm Trần Lê
Trong Phần I: Luận về cội nguồn nghệ thuật, chúng ta đã đề cập tới một bản năng cơ bản của người, đó là luôn tìm cách đạt được một vị thế cân bằng trong không gian. Có thể gọi đây là một bản năng cơ bản vì nó là nền tảng ẩn sau đa số, nếu không nói là tất cả mọi bản năng khác của con người. Nó cũng chính là cội nguồn khiến con người hướng tới tôn giáo và khoa học.
Bản năng đằng sau mọi bản năng

Như đã đề cập trong Phần I, khái niệm không gian – có thể hiểu là nhận thức của con người về thế giới – có nhiều hình thái đa dạng, từ những không gian thân thuộc tới những không gian rộng lớn, từ những không gian cụ thể tới trừu tượng.

Nhiều ví dụ minh họa cho thực tế là con người cũng như mọi sinh vật, luôn muốn đạt được những vị thế nhất định trong không gian. 

Có người khao khát muốn khẳng định vị thế của mình trong không gian của các công việc, có thể là qua vị trí công việc, hoặc qua mức độ hoàn thiện của sản phẩm. 

Có người lại mong muốn có sự hiện hữu của mình trong ánh mắt một cô gái, tức là muốn giành được một vị thế trong không gian tâm tưởng của cô ta. Trong tình dục, ham muốn  xâm chiếm và giao thoa về thể chất của mỗi người có mối liên quan mật thiết tới cảm giác ham muốn đạt được một vị thế của mình bên trong người kia, và thể hiện cao độ nhất ở trạng thái cực khoái khi người ta cảm thấy vị thế ấy là tuyệt đối cân bằng và viên mãn.  

Người ta vẫn nói rằng bản năng sinh tồn là một trong những bản năng mạnh nhất, nhưng bản năng hướng tới vị thế cân bằng trong không gian còn mãnh liệt hơn. Có những người yêu nước đã tuẫn tiết để bảo vệ khí tiết, và ngược lại, cũng có những người có thể trầm cảm tới mức tự sát. Đối với họ, sự sống có lẽ cũng quý giá nhưng nỗi đau do bất cân bằng trong tinh thần còn sâu sắc hơn, và sự hi sinh được coi là cần thiết để giành lại vị thế cân bằng. 

Nguồn gốc của tôn giáo

Trong bài viết về Tôn giáo và Khoa học trong cuốn Thế giới như tôi thấy, Einstein cho rằng con người tạo ra tôn giáo vì sự sợ hãi, rằng họ hình dung ra những vị thần linh để có thể cầu khẩn, lễ bái với mong muốn được phù hộ giúp vượt qua các thiên tai, bệnh dịch, thú dữ, và cái chết. Nhận định này của nhà bác học thiên tài có vẻ như hợp lý, nhưng chưa làm sáng tỏ được hai vấn đề cơ bản.

Thứ nhất, vì sao đa số các tôn giáo khởi thủy thường là đa thần? 

Thứ hai, vì sao các tôn giáo cổ cũng đồng thời có chức năng mô tả về nguồn gốc xuất xứ của thế giới, với những sử thi kể về việc tạo lập trời đất và thế giới tự nhiên?  

Nếu con người tạo ra tôn giáo chỉ để trấn áp sự sợ hãi thì thực ra người ta chỉ cần tưởng tượng ra một vị thần có quyền uy tối thượng với khả năng giải quyết mọi vấn đề, và mỗi khi có chuyện gì cấp bách thì chỉ cần cúng tế một mình vị này là đủ giải tỏa mọi sự bất an. Như vậy sẽ hoàn toàn không cần phải xây dựng nên một thứ tôn giáo đa thần với vô số những thần sông, thần núi, thần cây, v.v, càng không cần phải thêm thắt vào tôn giáo những sử thi dông dài nào đó.

Những câu hỏi đó gợi thấy rằng tôn giáo không đơn thuần chỉ để giải tỏa nỗi sợ hãi, và có lẽ phải đến do một bản năng căn bản hơn. Đó là nhu cầu hướng tới một vị thế cân bằng, với hai bước cơ bản quen thuộc: định hình không gian và xác lập vị thế cân bằng

Hình tượng các vị thần được xây dựng chính là để hình tượng hóa, cụ thể hóa những sự vật và thế lực bí ẩn mà con người chưa thấu tỏ. Đó là một sự xác lập nhận thức về thế giới, hay nói một cách cơ bản hơn là định hình không gian

Sau bước định hình không gian là bước xác lập vị thế cân bằng, cũng chính là công dụng của các nghi lễ thờ phụng và cúng tế. Thông thường, chúng ta hiểu một cách thực dụng rằng việc thực hiện những lễ này là để cầu xin cho một công việc cụ thể nào đó. Nhưng suy xét một cách sâu xa hơn, chúng ta thấy rằng nghi thức thờ phụng và cúng tế là một hình thức giao tiếp, qua đó giúp con người xác lập vị thế của bản thân mình trước các đấng thần linh, tức là xác lập một vị thế của mình trước thế lực bí ẩn mà vị thần linh ấy làm đại diện. Hình thức ấy sẽ được con người cử hành cho tới khi nào cảm thấy an tâm, tức là khi đã xác lập được một vị thế cân bằng trong không gian mà cả người và thần linh cùng hiện hữu.

Chính từ nhu cầu định hình không gian và xác lập vị thế cân bằng mà đa thần giáo và các sử thi được hình thành. Các vị thần linh của tôn giáo đa thần là những hình tượng cụ thể, giúp mô phỏng lại sự phức tạp của thế giới mà con người nhận thức được, bao gồm cả thế giới tự nhiên và thế giới tinh thần với những phạm trù trừu tượng (ví dụ như nữ thần tình yêu và sắc đẹp trong thần thoại Hi Lạp). Quyền uy và số phận của họ gắn liền với những sử thi kể về sự hình thành và biến hóa của trời đất, không đơn thuần phục vụ chức năng chuyện kể giải trí, mà thực sự là cách thức giúp con người định hình thế giới và sự vận hành của nó. 

Điểm mù của nhà khoa học

Nếu như trong tôn giáo con người định hình thế giới qua các không gian của huyền thoại và sử thi, thì trong khoa học, con người định hình thế giới qua không gian của hệ thống các tiên đề, giả thuyết, định lý, v.v. Đồng thời, bên trong không gian mang tính tổng quan ấy, mỗi một bài toán lý thuyết hay một thách thức về công nghệ, cũng là một không gian riêng biệt. 

Sau khi đã định hình được những nét cơ bản của một không gian, nhà khoa học nỗ lực xác lập vị thế cân bằng của mình, bằng cách chứng minh tính hợp lý xuyên suốt các chi tiết tồn tại bên trong không gian ấy. Đối với lĩnh vực khoa học ứng dụng và công nghệ, không gian của nhà khoa học bao hàm cả những sự vật cụ thể của thực tiễn đời sống, và bản năng cũng thúc đẩy nhà khoa học sẽ nỗ lực tìm cách chứng minh tính hợp lý của lý thuyết khi kết nối với những sự vật này.

Mỗi một thông tin chưa hợp lý hoặc chưa rõ ràng đều là những yếu tố đe dọa tới sự cân bằng của toàn hệ thống, gây cảm giác lung lay vị thế của nhà khoa học trong không gian sự vật được nghiên cứu. Và đây chính là nhiên liệu thổi bùng lên niềm đam mê tìm hiểu và khám phá. (Liên quan tới điều này, trong Phần I, chúng ta đã đề cập rằng vị thế của con người trong không gian chính là cội nguồn của cảm xúc). 

Nhưng bản thân nhà khoa học lại rất thụ động trong việc nhận biết bản chất gốc rễ của những quy trình này.

Nếu bạn hỏi một nhà sáng chế công nghệ rằng vì sao người đó lại đam mê công việc của mình, có lẽ bạn sẽ nhận được câu trả lời rất cụ thể và thực dụng, chẳng hạn như: người đó nghiên cứu là vì muốn một vật gì đó chạy nhanh hơn, hoặc tốn ít năng lượng hơn, bền hơn, hoặc là giúp cho ai đó sống khỏe hơn, vui hơn, giàu có hơn, v.v. Nhưng nếu bạn lại tiếp tục hỏi vì sao mà những lý do thực dụng ấy lại giúp đem đến niềm đam mê trong công việc nghiên cứu, thì rất có thể nhà công nghệ sẽ không thể trả lời được câu hỏi của bạn.

Tương tự như vậy, nếu bạn hỏi một nhà nghiên cứu khoa học cơ bản, rằng vì sao người đó lại đam mê công việc của mình, thì câu trả lời có lẽ cũng sẽ gắn với những vấn đề khá cụ thể, chẳng hạn như: người đó muốn nghiên cứu về lý thuyết A để bổ sung, mở rộng, điều chỉnh, hoặc thay thế cho lý thuyết B nào đó có nhiều điểm hạn chế. Và nếu bạn vẫn tiếp tục truy hỏi tới tận gốc vấn đề, rằng vì sao cái lý do tinh vi mà người đó đưa ra ấy, lại giúp đem đến niềm đam mê trong nghiên cứu, thì rất có thể là nhà khoa học cũng không thể nào trả lời được câu hỏi của bạn.

Đó chính là điểm mù của nhà khoa học. Họ nghiên cứu tỉ mỉ và sâu sắc về các loại tri thức, giúp mang đến những giá trị thực dụng to lớn, đem lại niềm vui và cải thiện chất lượng cuộc sống cho nhiều người; nhưng họ không thể lý giải căn nguyên bản năng đem đến niềm đam mê trong công việc của mình. 

Giống như dao sắc không gọt được chuôi, các nhà khoa học là những người tài ba trong việc suy xét những sự vật hóc búa, nhưng họ thật bối rối khi phải tự suy xét chính mình.  

Vượt thoát 

Tự suy xét đòi hỏi con người phải bước ra ngoài không gian quen thuộc cố hữu.

Điều này có thể xuất phát từ bản năng thường tình, khi người ta cảm thấy sự bất cân bằng trong không gian của hiện tại.
  
Tâm lượng rộng lớn, biến khắp Pháp giới. Dùng đến thì rành rẽ phân minh, ứng dụng liền biết hết thảy. Hết thảy là một, một là hết thảy. Đến đi tự do. Tâm không ngăn ngại, tức là Bát Nhã

(Huệ Năng, Pháp Bảo Đàn kinh, phẩm Bát Nhã)
Nhưng những người có trí tuệ nhạy bén sẽ cảm nhận được sự bất cân bằng sớm hơn những người khác. Nhờ đó mà họ vượt thoát khỏi trạng thái cân bằng trì trệ trong một không gian nhỏ hẹp tạm thời để hướng tới sự cân bằng trong một không gian rộng lớn hơn.

Một quả táo rơi xuống đầu là chuyện nhỏ nhặt thường tình, nhưng đủ để giúp Newton vượt thoát khỏi những lý thuyết vật lý cũ kỹ trước đó để sáng tạo ra thuyết vạn vật hấp dẫn. 
Mỗi nhà khoa học được vinh danh trong lịch sử đều là những người sáng tạo ra các không gian mới, hoặc kết nối được các không gian biệt lập cố hữu – cũng tức là tạo ra một không gian mới bao trùm lên những không gian cũ. 

Phủ quyết Thượng đế và sự vong bản 

Nhờ có những bộ óc lớn lao được kích thích bởi bản năng vượt thoát mà cái không gian chung của khoa học ngày càng được mở mang bờ cõi. Tri thức khoa học phát triển thành một hệ thống chặt chẽ, quy mô hùng vĩ, và không ngừng biến đổi sinh động.

Cái không gian được xây dựng trên các tiên đề, giả thuyết, và vô vàn những kinh nghiệm thực nghiệm ấy đủ phong phú để lôi cuốn những tâm hồn non trẻ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản về định hình không gian và xác lập vị thế cân bằng của họ. Họ sẽ đủ tự tin và tự mãn để phủ quyết Thượng đế và tôn giáo.

Nhưng người ta không biết rằng Thượng đế cũng chính là biểu tượng sơ khai nhất của tinh thần vượt thoát. Tôn giáo và khái niệm Thượng đế từ cổ xưa đã phục vụ con người với vai trò làm điểm tựa tinh thần, giúp con người vượt qua những nhọc nhằn trong cuộc sống, động viên họ rằng ở bên ngoài không gian hạn hẹp đến từ những trải nghiệm hữu hạn chắp vá trước mắt, là một không gian rộng lớn hơn, thăm thẳm vô biên, đang chờ đợi sự vươn tới để tương tác và trải nghiệm từ phía con người.

Bát Nhã, con đường của trí tuệ trong tương lai

Trong một thế giới tiến bộ, khi con người có ý thức sâu sắc về vị thế và không gian, họ sẽ tự chủ động vượt khỏi những không gian hữu hạn giả tạm. Điều đó tất yếu sẽ dẫn đến nhu cầu tự nhiên là duy trì vị thế cân bằng trong một không gian vô hạn.

Trước kia, người ta đã đạt được điều này thông qua việc tương tác với một vị Thượng đế trong tâm tưởng. Tuy nhiên, trong tiến trình định vị không gian và xác lập vị thế cân bằng, con người văn minh đã hình thành nên một bản năng khác không kém phần tự nhiên, đó là tinh thần duy lý khoa học.

Sự tương tác giữa hai nhu cầu đối chọi nhau đó sẽ dẫn con người vượt thoát tới một trạng thái đặc biệt, vừa không lìa bỏ cái duy lý, vừa kết nối được với cái vô hạn. Đó là Trí tuệ Bát Nhã.

Trong thế giới ấy, mỗi hơi thở đều có sự kết nối với không gian vô hạn. Trí tuệ và cảm xúc được khai phóng. Các không gian hữu hạn trong tâm tưởng sẽ không bị triệt tiêu để đảm bảo tính duy lý, nhưng chúng có thể dễ dàng phóng chiếu thành vô vàn các biến hóa không gian khác nhau, và tùy duyên mà kết tinh lại vào không gian nào có sự lắng đọng cao nhất. 

Khi ấy, người tu hành, nhà khoa học, hay người nghệ sỹ, tất cả đều là một.

“Bí mật của Thiên đường và Địa ngục”

Có một vị sư ngồi tọa thiền ở bên đường. Ngài tọa thiền một cách rất tịnh tâm. Bỗng nhiên có một võ sĩ không biết từ đâu đến, cất giọng nói rất chói tai, người đó yêu cầu:
“Nhà sư kia, hãy nói cho ta biết thế nào là Thiên đường và Địa ngục!”
Vị thiền sư vẫn ngồi tịnh tâm bất động, một lúc lâu sau ông mở mắt và nở một nụ cười nhẹ nhìn người võ sĩ nhưng không nói gì cả. Người võ sĩ chờ đợi một cách sốt ruột, thời gian chậm chạp trôi qua nhưng vị sư vẫn không nói gì, người võ sĩ càng kích động hơn nữa.
Bí mật của Thiên đường và Địa ngục
(Ảnh: Shutterstock)
Cuối cùng vị sư già mở miệng hỏi: “Ngươi muốn biết bí mật của Thiên đường và Địa ngục ư? Trông ngươi vô cùng nhếch nhác, lấm đầy bụi bẩn, tóc rối bù và hôi hám, còn đường gươm thì vô tình tàn nhẫn. Thế mà người còn hỏi ta thế nào là Thiên đường và địa ngục ư?”
Người võ sĩ tức giận, gương mặt đỏ bừng tay vung cao thanh kiếm tấn công vị thiền sư. Ngay khi lưỡi kiếm lướt đến gần cổ của mình, vị thiền sư từ tốn nói: “Đây chính là Địa ngục.”
Trong khoảnh khắc đó, người võ sĩ nhận ra một sự chuyển đổi kỳ lạ trong tâm tưởng của mình, từ ngạc nhiên, sợ hãi, đến lòng trắc ẩn và tình thương cho người đã dám hy sinh mạng sống của chính mình để dạy cho anh một bài học. Anh ta buông tay và thanh kiếm rớt xuống đất, đồng thời trên mặt những giọt nước mắt tuôn rơi thành hàng.
Nhà sư nhìn thấy thế, nhẹ mỉm cười và nói: “Đây chính là Thiên đường”.

Bài học từ một vị thầy tu già trồng hoa lan

Một vị lão hòa thượng trồng một chậu hoa lan, ông rất chăm sóc và bảo vệ chậu hoa thanh nhã này, thường xuyên tưới nước, nhổ cỏ và bắt sâu cho nó. Hoa lan dưới sự chăm chút hết lòng của lão hòa thượng mà lớn lên khỏe mạnh và trổ hoa rất thanh tú.
Một lần, lão hòa thượng phải đi ra ngoài có việc một thời gian, ông liền đem chậu hoa lan giao lại cho tiểu hòa thượng nhờ chăm sóc.
Chú tiểu rất có trách nhiệm, cũng một lòng để tâm chăm sóc, nâng niu hoa lan như lão hòa thượng vẫn làm khiến hoa lan phát triển rất khỏe mạnh.
(Ảnh: Shutterstock)
Một hôm, tiểu hòa thượng sau khi đã tưới nước cho chậu hoa lan liền đặt nó ở trên bệ cửa sổ rồi đi ra ngoài làm việc.
Không ngờ, trời đổ mưa to, gió lớn làm chậu hoa lan rơi xuống đất vỡ tan. Chú tiểu sau khi trở về nhà nhìn thấy trên mặt đất cành lá gãy nát, héo úa nên vừa đau lòng vừa lo sợ lão hòa thượng sẽ quở trách.
Mấy ngày sau, lão hòa thượng trở về nhà, chú tiểu kể lại sự tình đã xảy ra và cũng sẵn sàng đón nhận sự trách mắng của lão hòa thượng.
Nhưng lão hòa thượng chẳng nói một lời nào quở trách nào cả khiến chú tiểu vô cùng bất ngờ, vì đó là chậu hoa lan mà ông yêu quý nhất mà!
Lão hòa thượng chỉ mỉm cười rồi nói với tiểu hòa thượng rằng: “Ta trồng hoa lan, đâu phải để tức giận?”
Thứ gì đó một khi bị mất đi không thể vãn hồi được nữa có nhất thiết phải oán trách hay thù hận không?
(Sưu tầm)

Pythagore và thuyết luân hồi

Pythagore và thuyết luân hồi NSGN - Quan niệm tái sinh, luân hồi (saṃsāra) của sinh mạng không phải chỉ riêng có trong tư tưởng Phệ...