Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2019

Các nhà khoa học cảnh báo sự nguy hiểm khi quá tin vào… khoa học

Rất nhiều nhà khoa học, những người tìm ra các lý thuyết và định luật khoa họcđược công nhận, đã cảnh báo các nhà khoa học trong tương lai đừng bị giới hạn bởi những thành tựu của họ. Rất nhiều những khám phá vi đại nhất đã bị chế nhạo lúc ban đầu vì chúng đối lập với những định kiến đương thời.
Các nhà khoa học cảnh báo sự nguy hiểm khi quá tin vào... khoa học
1 phần bức tranh The Creation of Adam (tạm dịch – Chúa tạo ra Adam) của Michaelangelo trên trần của nhà nguyện Sistene (Ảnh: Wiki)
Sau đây là 10 ý kiến sâu sắc của một số bộ óc vĩ đại nhất trong khoa học:

1. Lợi ích của việc bị chế giễu

Hãy vui mừng khi các nhà khoa học khác không tin vào điều bạn biết chắc chắn là sự thật. Điều này sẽ cho bạn thêm thời gian để nghiên cứutrong yên bình. Khi họ bắt đầu công bố rằng họ đã tìm ra điều đó trước bạn, hãy đi tìm một dự án mới.
—Efraim Racker, trong cuốn sách “Sự kiên định và tái thiết lập các đường hướng sinh học trong giai đoạn 1919-1984”, đăng trong Kỷ yếu Liên bang – Mỹ năm 1983.
Efraim Racker (1913-1991) là một nhà sinh hóa học. Ông được biết đến qua các phát hiện về cơ chế tổng hợp ATP, một phân tử có vai trò vận chuyển năng lượng giữa các tế bào sinh vật.

2. Khuynh hướng bài trừ mạnh mẽ các ý tưởng mới

Wilfred Trotter (1872-1939) là một bác sĩ phẫu thuật, chuyên gia tâm lý xã hội.
Wilfred Trotter (1872-1939) là một bác sĩ phẫu thuật, chuyên gia tâm lý xã hội.
Trí óc chẳng ưa gì ý tưởng mới, hệt như cơ thể không thích một protein lạ, và chống đối nó với một năng lượng tương tự. Có lẽ không quá bất thường khi nói rằng, ý tưởng mới là kháng nguyên hoạt động nhanh nhất từng được biết đến trong khoa học. Nếu chúng ta xem xét bản thân mình một cách trung thực, chúng ta sẽ thường xuyên thấy bản thân bắt đầu phản bác một ý tưởng mới, thậm trí trước cả khi nó được trình bày xong. Tôi không nghi ngờ rằng câu nói vừa rồi đã gặp phải sự phản kháng trong tâm trí chúng ta – chứng tỏ cơ chế phòng thủ này làm việc nhanh chóng đến thế nào.
– Wilfred Trotter, trong “các bài báo được chọn lọc của Wilfred Trotter F.R.S”, được đăng tải năm 1941.

3. Chỉ vì chúng ta chưa thể đo lường sự vật một cách dễ dàng, không có nghĩa nó không tồn tại

(ảnh: Shutterstock)
(ảnh: Shutterstock)
Bước đầu tiên là đo lường bất cứ thứ gì có thể đo lường được một cách dễ dàng. Việc này vẫn ổn trong một chừng mực nào đó. Bước thứ hai là bỏ qua những gì không thể đo lường một cách dễ dàng, hoặc gán cho nó một giá trị định lượng ngẫu nhiên. Đây là một hành động giả tạo và dễ dẫn đến sai lệch. Bước thứ ba là giả định rằng những thứ không thể được đo lường dễ dàng là không thực sự quan trọng. Đây là sự mù quáng. Bước thứ tư là nói rằng cái gì không thể được đo lường thì thật sự không tồn tại. Đây là tự sát.
– Charles Handy, Nhà kinh tế và nhà nghiên cứu hành vi tổ chức, trong cuốn sách của ông: ‘Áo mưa rỗng: Diễn giải tương lai’ (The Empty Raincoat: Making Sense of the Future)

4. Các “định luật” vật lý có thể thay đổi

Max Planck được xem là một trong những người sáng lập của cơ học lượng tử. Ông được trao giải Nobel Vật lý năm 1918 (ảnh: Wiki)
Max Planck được xem là một trong những người sáng lập của cơ học lượng tử. Ông được trao giải Nobel Vật lý năm 1918 (ảnh: Wiki)
Chúng ta không có quyền giả định rằng bất kỳ định luật vật lý nào đó thực sự tồn tại, hay nếu chúng tồn tại cho đến ngày nay, thì chúng sẽ tiếp tục tồn tại theo cách tương tự trong tương lai. Hoàn toàn có thể nói rằng vào một ngày đẹp trời nào đó, Tự Nhiên sẽ tạo ra một sự kiện bất ngờ có thể làm tất cả chúng ta phải chấn động; và nếu điều này xảy ra, chúng ta sẽ bất lực trong việc phản đối, và ngay cả nếu kết quả là như vậy, thì bất kể chúng ta nỗ lực ra sao, chúng ta vẫn sẽ thất bại khi cố gắng thiết lập trật tự trong cái tình trạng hỗn loạn sau đó. Trong một sự kiện như vậy, con đường duy nhất mở ra cho khoa học là tự nó tuyên bố phá sản.
—Max Planck, trong cuốn sách “Vũ trụ trong ánh sáng của vật lý hiện đại”, dịch bởi W. H. Johnston.
Khoa học không thể giải đáp bí ẩn tối hậu của tự nhiên. Lý do là vì, trong các phân tích cuối cùng, tự bản thân chúng ta là một phần của tự nhiên và do đó cũng là một phần của bí ẩn mà chúng ta đang cố gắng giải quyết.
—Max Planck, trong cuốn sách ‘Khoa học đang tiến về đâu?’, phiên dịch bởi James Murphy.
ADVERTISEMENT

5. Khoa học là ‘một loại hình tôn giáo khác’?

Các nhà khoa học cảnh báo sự nguy hiểm khi quá tin vào... khoa học
Sự tương đồng đáng kinh ngạc giữa tế bào não (Trái) và vũ trụ (phải). (Ảnh qua estatevaults.com)
Chúng ta không cần đợi khoa học cho phép thực hiện những điều khác thường hay tiến ra bên ngoài cái khung khả thi mà chúng ta vẫn biết. Nếu làm vậy, chúng ta đã biến khoa học thành một dạng thức khác của tôn giáo. Chúng ta nên trở thành những cá nhân độc lập; chúng ta nên thử làm những điều phi thường.
— Joe Dispenza, trong cuốn sách ‘Tiến hóa não bộ: Khoa học thay đổi tâm trí của bạn’ (Evolve Your Brain: The Science of Changing Your Mind)
Joe Dispenza là một nhà khoa học thần kinh và một chuyên gia trị liệu cột sống. Ông là một trong những nhà khoa học có mặt trong bộ phim What the Bleep Do We Know!? – bao gồm các cuộc phỏng vấn dạng tư liệu. Ông từng bị nứt rạn cột sống trong một tai nạn xe hơi, và các bác sĩ bảo rằng cách duy nhất ông có thể tự bước đi lại là tiến hành phẫu thuật. Nhưng ông đã quyết định không phẫu thuật, vì ông tin rằng mình có thể tự lành nhờ vào sức mạnh ý chí. Ông đã có thể bước đi lại sau 3 tháng.

6. Lý lẽ là gì?

William Hazlitt  là một nhà văn và triết gia. (bản vẽ phác thảo năm 1825 của William Bewick)
William Hazlitt  là một nhà văn và triết gia. (bản vẽ phác thảo năm 1825 của William Bewick)
Lý lẽ, đối với hầu hết mọi người, chính là quan điểm của họ.
—William Hazlitt, trong bài viết “Một trường phái cải tổ mới: cuộc đối thoại giữa một người theo chủ nghĩa duy lí và một người theo chủ nghĩa duy cảm”.

7. Khoa học hàm chứa sự bí ẩn

Robert Sapolsky là một nhà sinh học và thần kinh học. Ông nổi tiếng qua đóng góp về các bệnh lý liên quan đến stress. (P. S. Burton/ Bill Branson/ National Institutes of Health Record)
Robert Sapolsky là một nhà sinh học và thần kinh học với nhiều đóng góp về các bệnh lý liên quan đến stress. (ảnh: National Institutes of Health Record)
Tôi yêu khoa học, và tôi cảm thấy đau lòng khi biết rằng rất nhiều người sợ hãi chủ đề này hoặc cảm thấy việc chọn lựa khoa học nghĩa là bạn không thể chọn tình thương, nghệ thuật, hay cảm giác kinh ngạc trước thiên nhiên. Khoa học không có mục đích xóa đi các bí ẩn trong đầu, mà là để tái phát minh và truyền lại sức sống cho nó.
—Robert Sapolsky, trong cuốn sách “Tại sao ngựa vằn không bị u xơ” (Why Zebras Don’t Get Ulcers)

8. Einstein với ‘Hiện thực khách quan’

Albert Einstein trong một lần giảng bài tại Vienna vào năm 1921 (42 tuổi). (ảnh: Ferdinand Schmutzer)
Albert Einstein trong một lần giảng bài tại Vienna vào năm 1921 (42 tuổi). (ảnh: Ferdinand Schmutzer)
Khái niệm vật lý là các sáng tạo tự do của tâm trí con người, và bất kể có vẻ ra sao, không hề được quyết định một cách đặc thù bởi thế giới bên ngoài. Trong nỗ lực nhằm thấu hiểu thực tại, chúng ta có vẻ hơi giống với một con người đang cố gắng tìm hiểu cơ chế của một chiếc đồng hồ kín. Anh ta có thể nhìn thấy mặt đồng hồ và các kim đang chuyển động, thậm chí có thể nghe tiếng tích tắc, nhưng anh ta không cách nào mở cái vỏ đồng hồ [để xem cơ cấu bên trong]. Nếu thông minh, anh ta sẽ có thể hình dung một vài bức tranh về cơ chế đằng sau của tất cả những gì đã quan sát thấy, nhưng anh sẽ không bao giờ có thể chắc chắn bức tranh của anh là phương án duy nhất để lý giải cho các quan sát của mình.
Anh ta sẽ không bao giờ có thể so sánh bức tranh của anh với cơ cấu thực sự [của chiếc đồng hồ] và thậm chí không thể tưởng tượng được tiềm năng hay ý nghĩa của một phép so sánh như vậy. Nhưng anh tin chắc rằng, khi kiến thức của bản thân được trau dồi, bức tranh về thực tại của anh sẽ trở nên đơn giản và đơn giản hơn nữa, và sẽ có thể giải thích một phạm vi rộng lớn và rộng lớn hơn nữa các ấn tượng từ giác quan của mình. Anh cũng có thể tin rằng một giới hạn kiến thức tối ưu là có tồn tại và giới hạn đó sẽ được tiếp cận bởi tâm trí con người. Anh có thể gọi cái giới hạn tối ưu này là chân lý khách quan.
-Albert Einstein và Leopold Infeld, trong cuốn sách viết chung “Sự tiến hóa của vật lý” (The Evolution of Physics)

9. Thiếu sót trầm trọng trong khoa học

Humphry Davy (ảnh: famousinventors.org)
Humphry Davy (ảnh: famousinventors.org)
Không có gì tai hại đến sự phát triển của tâm trí con người hơn việc giả định rằng: quan điểm của chúng ta về khoa học là tối hậu; rằng không có bí ẩn nào trong tự nhiên; rằng các thành tựu của chúng ta là toàn diện, và rằng không có thế giới mới nào cần chúng ta đến khám phá.
—Ngài Humphry Davy, trích trong cuốn ‘Humphry Davy: Khoa học và quyền lực’ (Humphry Davy: Science and Power) của David Knight
Ngài Humphry Davy là một nhà hóa học và một nhà phát minh. Ông đã phát hiện ra nguyên tố hóa học Natri, Kali, và Canxi nhờ phương pháp điện phân, và phát hiện ra rằng Clo, trước từng được cho là có chứa thành phần khí oxy, thực ra là một nguyên tố hóa học. Ông cũng phát minh ra đèn Davy, một loại đèn an toàn để sử dụng trong các mỏ than đá.

10. Khoa học không thể giải thích khái niệm linh hồn

(ảnh: Shutterstock)
(ảnh: Shutterstock)
Tôi cho rằng những bí ẩn của con người đã bị hạ thấp một cách thậm tệ bởi thuyết giản hóa luận (reductionism) trong khoa học, khi sử dụng các luận điệu trong ‘chủ nghĩa duy vật hứa hẹn’ để giải thích hầu như tất cả khía cạnh của thế giới tâm linh dưới các mô thức hoạt động thần kinhNiềm tin này phải được xếp vào loại mê tín. […] Chúng ta phải nhận ra rằng chúng ta là những sinh mệnh tâm linh có linh hồn tồn tại trong một thế giới tâm linh, đồng thời cũng là một sinh mệnh vật chất với cơ thể và não bộ tồn tại trong một thế giới vật chất.
 John C. Eccles, trong cuốn sách ‘Evolution of the Brain: Creation of the Self’
John Carew Eccles, một nhà sinh lý học thần kinh, đoạt giải Nobel năm 1963 về Sinh lý học và Y học cùng với Alan Lloyd Hodgkin và Andrew Fielding Huxley cho các đóng góp trong lĩnh vực truyền dẫn xi-nap hóa học.
Theo Tara MacIsaac, ETThiện Tâm biên dịch

Sự hòa quyện giữa tôn giáo và khoa học

Chúng ta đang sống trong một thời đại không may mắn vì thường bị buộc phải chọn ủng hộ khoa học hoặc tôn giáo, chứ không thể chọn cả hai.
Thái độ đối đãi một mất một còn như vậy đang ngày một trở nên phổ biến hơn trong xã hội hiện nay, ít nhất là trong giới trí thức tinh hoa. Nhưng liệu nó có đúng đắn và hợp lý không?
Lịch sử đã ghi nhận không ít các nhà khoa học tìm ra những phát kiến lớn lao trong khi vẫn kiên trí đức tin vào một Đấng Sáng Thế. Có thể kể ra Isaac Newton, Nicolaus Copernicus và Gregor Mendel và nhiều nhà khoa học khác – họ đã có được những thành tựu đột phá trong khi tin rằng các phát kiến khoa học là một phần không thể thiếu trên con đường hoàn thành sứ mệnh thần thánh của con người, chứ không phải để phủ nhận sự tồn tại của sứ mệnh ấy.
Năm 1915, Albert Einstein đề xuất thuyết tương đối rộng, lập ra mối quan hệ giữa không gian, thời gian và trọng lực, và đưa ra các phương trình để mô tả mối quan hệ phức tạp đó. Ông đã đạt đến mức độ chi tiết mà người ta không cách nào hình dung ra trước đó.
Georges Lemaitre thuyết big bang, tôn giáo và khoa học
Georges Lemaître (ảnh: ĐH Leuven)
12 năm sau, Georges Lemaitre, một giám mục Dòng Tên giảng bài tại Trường Đại học Thiên Chúa Giáo Leuven bằng tiếng Bỉ, đã xuất bản một nghiên cứu chấn động có tên “Biên niên sử Xã hội Khoa học ở Brussels.” Lemaitre, người từng học tập và nghiên cứu tại Cambridge, Harvard và MIT, cũng là một tên tuổi nặng ký.
Những gì ông đề xuất trong bài báo năm 1927 ấy là cấp tiến và ngoạn mục.

Sự bắt đầu của thời gian

Những hiểu biết thông thường của giới khoa học về thời gian cho rằng vũ trụ là vô hạn, tồn tại vĩnh viễn và không thay đổi. Nó đã từng và sẽ luôn luôn tồn tại, và nó không có biên giới. Đó là điều Einstein và hầu hết các nhà khoa học có uy tín đều tin tưởng. Sau đó, vị tu sĩ người Bỉ xuất hiện, từ các lý thuyết và phương trình của Einstein mà lập luận rằng những hiểu biết thông thường kia là sai.
Lemaitre cho rằng vũ trụ không phải là vô hạn, nó không tồn tại vĩnh viễn, và nó liên tục thay đổi. Trên thực tế, nó đang nở ra và sẽ tiếp tục nở ra.
Lemaitre không thể dự đoán liệu sự giãn nở ra này cuối cùng có chậm lại rồi dừng hẳn và co lại hay không (các nhà vật lý học hiện đại tin rằng sự nở ra của vũ trụ sẽ tăng tốc và nó sẽ không co lại), nhưng ông ấy chắc chắn rằng sự nở ra đã và đang diễn ra.
Và đây là lúc mọi chuyện trở nên thú vị.
Nếu vụ trụ hiện đang và luôn luôn nở ra, thì có thể kết luật một cách logic rằng, quay ngược lại mà nhìn thời gian, người ta sẽ thấy vũ trụ càng ngày càng nhỏ hơn cho tới khi toàn bộ vũ trụ chỉ còn là một điểm cực kỳ đậm đặc, cực kỳ nhỏ nhưng lại có thể sinh ra toàn bộ vật chất và năng lượng đang tồn tại hiện nay.
Thời khắc mà đơn điểm này sinh ra vũ trụ mà chúng ta biết hiện nay được gọi là Vụ Nổ Lớn – Big Bang (thuật ngữ được nhà thiên văn học Fred Hoyle giới thiệu nhằm chế giễu ý tưởng của Lemaitre). Tác giả Mark Midbon, trong một bài báo xuất bản trên Tạp chí Thịnh vượng chung (Commonweal) năm 2000, đã hùng hồn nhắc lại sự kiện này với cái tên “cái ngày mà không có ngày hôm qua,” một thuật ngữ mà hẳn Lemaitre sẽ ưng ý.
Georges Lemaitre thuyết big bang, tôn giáo và khoa học
Minh họa Big Bang (ảnh: Youtube)
ADVERTISEMENT
Từ thuyết Big Bang có thể kết luận một cách logic rằng có một thời điểm mà lúc đó thời gian bắt đầu và không gian xuất hiện. Điều diễn ra và tồn tại “trước” thời điểm đó thì người trần mắt thịt chúng ta không thể biết được (dùng từ “trước” trong ngoặc kép là bởi thời gian không thực sự có bất kỳ ý nghĩa gì cho đến khi Big Bang xảy ra).
Có một sự tương hợp rõ ràng giữa thuyết Big Bang và những dòng mở đầu trong cuốn Genesis – Chúa sáng tạo thế giới:
“Ban đầu Chúa tạo ra các thiên đường và trái đất. Lúc đó trái đất không có hình dạng và trống rỗng, bóng tối phủ khắp mọi bề, và Tinh thần của Chúa bay trên mặt nước. Và Chúa nói, ‘Phải có ánh sáng.’ và ánh sáng xuất hiện. Chúa thấy ánh sáng thật tốt, và Ngài phân tách ánh sáng khỏi bóng tối.”
Có rất ít những tín đồ Cơ đốc giáo hôm nay, bao gồm cả tôi, tin vào nghĩa đen của Kinh thánh, và đặc biệt là Kinh Cựu ước cũng vậy. Hầu hết các con chiên Cơ đốc hôm nay, bao gồm cả tôi, tin rằng cả Kinh Cựu ước và Kinh Tân ước chứa đựng những thông điệp được tạo cảm hứng một cách thần thánh thông qua ngòi bút của những sứ giả người trần mắt thịt, và ý nghĩa của chúng sẽ dần sáng tỏ khi con người – một sinh vật có tri giác – tiếp tục trưởng thành hơn.
Dưới góc nhìn ấy, thì câu chuyện trong Chúa sáng tạo thế giới dường như là tương hợp với lý thuyết của Big Bang.

Chủ nghĩa hoài nghi và bằng chứng

Georges Lemaitre thuyết big bang, tôn giáo và khoa học
Lemaitre và Einstein (ảnh: ĐH Leuven)
Einstein ban đầu lãnh đạm với công trình của Lemaitre. Theo lời vị tu sĩ này, Einsein nói với ông ấy rằng “Vos calculs sont corrects, mais votre physique est abominable” (tạm dịch: “Những tính toán của ông là chính xác, nhưng [hiểu biết] vật lý của ông thì rất tệ”) sau khi vị tu sĩ cho xuất bản tác phẩm của mình. Mô hình một vũ-trụ-ổn-định đại diện cho những hiểu biết thông thường và phổ biến của thời đại lúc bấy giờ, và Eistein – giống như bất kỳ các khoa học gia hợp cách nào khác vào lúc đó – hoài nghi những lý thuyết khác.
Hãy chú ý tới việc sử dụng từ “hoài nghi” hơn là từ “lãnh đạm” hoặc từ “phủ nhận.” Những khoa học gia hợp cách luôn sẵn lòng lắng nghe các lý thuyết khác và sẵn sàng thay đổi ý kiến của họ nếu có đủ chứng cứ. Đối lập với những gì mà những người nhiệt thành với biến đổi khí hậu muốn chúng ta tin tưởng, khoa học không bao giờ là ổn đinh.
Einstein cũng hiểu điều đó như bất kỳ ai khác. Khi đề xuất thuyết tương đối rộng, ông đề cử ba thí nghiệm khả thi để kiểm chứng hoặc phủ nhận lý thuyết của mình. Một trong số đó là thí nghiệm liên quan tới những sự nhiễu loạn nhỏ trong quỹ đạo của Sao Thủy và Einstein có thể tự mình kiểm chứng bằng các thiết bị thời đó. Những sự nhiễu loạn quan sát được tuân theo những gì thuyết tương đối rộng dự đoán, là điều mà mô hình thiếu chính xác hơn của Newton không thể làm được.
Hai thí nghiệm khác mà Einstein đề xuất không thể thực hiện được tới mức độ chính xác trong thời đại của ông. Tuy nhiên, các nhà khoa học tài ba đã có thể làm được cả hai thí nghiệm bằng các công nghệ mới sau khi Einstein ra đi.
Liệu sự đúng đắn của thuyết tương đối rộng và thuyết tương đối hẹp có đồng nghĩa với việc Newton đã sai không? Liệu câu chuyện đáng ngờ về quả táo rơi trúng đầu ông ấy là vô nghĩa? Không. Đó không phải là cách mà khoa học phát triển. Einstein không hề thay thế công trình của Newton – ông ấy chỉ cải thiện nó mà thôi.
Thú vị là, Einstein không phải là người duy nhất gặp vấn đề với lý thuyết của Lemaitre. Vào thời điểm đó, Arthur Eddington, giám đốc của đài quan sát thiên văn tại Trường Đại học Cambridge nơi Lemaitre đã học toán và khoa học, đã viết rằng ông thấy “thật sai lầm” về ý tưởng không gian và thời gian được tạo ra vào cái ngày mà Midbon gọi là cái ngày không có ngày hôm qua ấy.
Thời gian đã mỉm cười với Lemaitre. Edwin Hubble đã chứng tỏ tiền đề cơ bản của vị tu sĩ là đúng đắn: vũ trụ đang nở ra, và vì vậy, nó chắc chắn phải xuất phát từ một đơn điểm.
Năm 1998, nghiên cứu của các nhà khoa học Adam Riess, Saul Perlmutter và Brian Schmidt, những người giành giải Nobel năm 2011 về Vật lý học cho công trình của họ, đã chứng minh rằng tốc độ của sự giãn nở là tăng tăng đều, có nghĩa rằng Big Bang – và sự sáng tạo ra không gian và thời gian – là sự kiện chỉ diễn ra một lần.
Đối với tôi, những gì diễn ra chỉ một lần trong vĩnh hằng dường như vượt quá tầm hiểu biết của con người và, vì vậy, một cách tất yếu, là bằng chứng cho sự tồn tại của một quyền năng cao cấp hơn. Nói chung, Lemaitre, Hubble, Riess, Perlmutter và Schmidt đã cùng biểu đạt rằng khoa học và tôn giáo là hoà quyện vào nhau. Và chúng ta sẽ trở thành những cá nhân tốt đẹp hơn rất nhiều nếu hiểu được sự thật cơ bản đó.
Tác giả: Richard Trzupek là một nhà hóa học và nhà tư vấn về môi trường, kiêm nhà phân tích tại Viện Hearland. Ông cũng là tác giả của cuốn sách “Các nhà quản lý nổi loạn: EPA đang phá hủy nền công nghiệp Mỹ như thế nào.”
Theo ET,
Quốc Hùng biên dịch.

Lão Tử nói về người có trí tuệ sáng suốt

Lão Tử giảng, người có trí tuệ sáng suốt cần phải làm được ba điều là “thủ ngu”, “thủ tĩnh” và “thủ nhu”. Đây cũng là ba đại trí huệ vô cùng tiêu biểu trong tư tưởng triết học Đạo gia.
Lão Tử
(Hình minh họa: Qua board.postjung.com)

1. Thủ ngu: “Đại trí nhược ngu”

Tư tưởng triết học của Lão Tử là triết học “thấp điệu” (khiêm nhường, nguyện ý hạ mình ở dưới). Từ đầu tới cuối, Lão Tử đều chủ trương ẩn dật, không tranh.
Người trí tuệ sẽ không bao giờ dễ dàng khoe khoang, thể hiện bản thân mình hơn người, không giống người bình thường khác mà thường “thủ ngu”, thể hiện mình ngu ngơ, ẩn đi sự xán lạn của bản thân mình, giống như những người bình thường khác.
Trong “Sử ký” có viết rằng, thời trẻ Khổng Tử từng hướng Lão Tử thỉnh giáo đạo lý làm người. Lão Tử nói với Khổng Tử: “Lương cổ thâm tàng nhược hư, quân tử thịnh đức dung mạo nhược ngu.” ý nói người mà buôn bán giỏi thường khéo giữ của quý khiến người ngoài tưởng như họ không hề có gì, người quân tử có đức tính dung mạo khiêm cung giống như kẻ ngu ngơ.
Một người quân tử có phẩm hạnh cao thượng sẽ hiểu rõ ràng đạo lý của việc ẩn giấu. Bề ngoài của họ thoạt nhìn thì tựa như ngu xuẩn, trì độn. Bởi vì họ hiểu rằng con người thường có tâm đố kỵ tranh đấu rất lớn, cho nên người thông minh sẽ thường ở trong “bất tri bất giác” tạo nên sự tranh đấu, dễ dàng khiến bản thân mình trở thành mục tiêu của sự chỉ trích.
Lão Tử nói cho Khổng Tử biết đạo lý rằng, một người phải bỏ tâm kiêu ngạo và tham dục thì mới trở thành thánh nhân. Đây cũng chính là điều mà cổ nhân gọi là “đại trí nhược ngu”, hay trong “Luận Ngữ” khen ngợi Nhan Hồi là người “Hữu nhược vô, thật nhược hư” (có mà giống như không, thật mà giống như giả).

2. Thủ tĩnh: Gặp việc lớn phải có tĩnh khí

Lão Tử
(Hình minh họa: Qua kknews.cc)
ADVERTISEMENT
Lão Tử nói: “Thục năng trọc dĩ trừng? Tĩnh chi từ thanh”, ý nói ai có thể làm nước đục trong trở lại ngoài cách tĩnh lại.
Một ly nước vẩn đục chỉ có dựa vào cách lắng đọng lại từ từ thì mới có thể khiến nó dần trong trở lại. Tâm của con người cũng lại như thế, khi tâm người không tĩnh giống như cốc nước vẩn đục mà quan sát mọi việc thì sẽ chẳng thể nhìn thấu được vạn sự thế nhân, lý cũng không thuận. Chỉ khi tâm như nước trong suốt, như gương mới soi rọi vạn sự vạn vật, mới thấy rõ mọi sự tình.
Trong “Đạo Đức Kinh” viết: “Tĩnh vi táo quân”, ý nói tĩnh chính là chủ thể chỉ huy sự vận động. Tĩnh có thể khắc chế được tính khí nóng nảy, manh động của con người, giúp con người dần dần khôi phục được lý trí của mình. Một người có tính khí trầm tĩnh và một người có tính khí nóng nảy ở với nhau, ắt người có tĩnh khí sẽ luôn chiếm ưu thế thượng phong.
Thời cổ đại, trên mũ của Hoàng thượng luôn có bức rèm ngọc nhỏ, tác dụng chủ yếu của nó là thông qua bức rèm ngọc nhỏ này giúp Hoàng thượng bảo trì được trạng thái tĩnh khí, không hành xử vội vàng.
Tăng Quốc Phiên từng nói: “Tâm tĩnh tắc thể sát tinh, khắc trị diệc tỉnh lực”, ý nói chỉ có người tĩnh tâm mới có thể đủ cẩn thận để suy xét kỹ càng sự vật, phát hiện sự vật và nhìn ra những chỗ tinh vi của sự vật. Làm được như vậy có thể giúp nâng cao hiệu quả công việc, “làm ít mà công to”, giảm thiểu tối đa thời gian và sức lực.

3. Thủ nhu: Mềm thắng cứng

(Hình minh họa: Qua sohu.com)
Tương truyền rằng khi mừng thọ Lão Tử 80 tuổi, có rất nhiều người đến chúc mừng ông. Mọi người đều hỏi bí quyết trường sinh của ông.
Lão Tử không nói lời nào mà chỉ há miệng ra cho mọi người xem. Mọi người thấy Lão Tử làm như vậy đều không hiểu ẩn ý trong việc làm của ông.
Sau đó Lão Tử giải thích: “Răng cứng nhưng nay đã chẳng còn, mềm mại như lưỡi lại còn như nguyên. Đây chính là đạo lý nhu mềm thắng cứng rắn”.
Lão Tử ca ngợi nước, phụ nữ và trẻ em, chính là vì ông nhìn thấy được sức mạnh của sự mềm mại. Mềm mại chính là đại trí huệ của sinh mệnh, cũng như một cái cây khô thì rất dễ bị gió làm cho gãy, tuy nhiên cây còn sống biết thuận theo chiều gió mà lay chuyển thì lại chẳng hề gì. Đạo lý làm người và cây cũng lại như thế, những thứ có sinh mệnh thì đều mang một thân thể mềm mại, chết rồi thì liền biến thành khô cứng.
Nước chảy đá mòn, nước tuy mềm mại nhưng lại có thể xuyên thủng được đá. Vậy nên mềm chính là sức mạnh cường đại. Trên đời này không có thứ gì mềm mại hơn nước mà lại có thể mạnh hơn nước. Nước có thể khắc chế được những thứ cứng rắn nhất trên đời.
“Binh vô thường hình, thủy vô thường thế”, những thứ mềm mại có thể dễ dàng uyển chuyển biến hóa cho nên có thể thích ứng được với vạn sự. Còn thứ cứng rắn lại khó có thể biến hóa. Đây cũng chính là đạo lý “Vô hình thắng hữu hình” trong binh pháp Tôn Tử.
Cuộc sống vốn dĩ rất giản đơn, bậc cao nhân có trí tuệ sáng suốt thì đều biết chọn cho mình một cách sống trí tuệ nhất!
An Hòa (dịch theo sự cho phép của tác giả)

6 câu triết lý ẩn chứa trí tuệ của Lão Tử

Tương truyền rằng khi Lão Tử cưỡi trâu xanh ra Hàm Cốc quan thì bị quan lệnh Doãn Hỷ ngăn lại, cầu ông truyền thụ Đạo. Vì thế, Lão Tử đã sáng tác “Đạo Đức Kinh” gồm 5000 chữ truyền lại cho hậu nhân. “Đạo Đức Kinh” được đánh giá là chứa đựng trí tuệ thâm sâu của Lão Tử. Thông qua “Đạo Đức Kinh” người đời sau có thể lĩnh ngộ được rất nhiều trí tuệ thâm sâu mà Lão Tử để lại.
lão tử
(Hình minh họa: Qua secretchina)
Dưới đây là 6 câu thành ngữ trong “Đạo Đức Kinh” của Lão Tử vô cùng hữu ích cho hậu nhân:

1. Phú tại tri túc: Giàu ở biết đủ

Ăn bất quá chỉ cầu ăn no, ở bất quá chỉ cầu được an. Vinh nhục ở cõi hồng trần này đều bất quá chỉ là tham dục của tâm con người. Người có tâm biết đủ thì sẽ không truy cầu những gì quá phận, cầu những thứ không thuộc về mình, vì vậy họ không tự tìm đến phiền não. Một vị triết nhân từng nói: “Con người sở dĩ thống khổ không phải bởi vì mình có được quá ít mà là muốn có được quá nhiều.”
Chính bởi vì dục vọng quá nhiều, kết quả tạo thành trong tâm luôn thấy bần cùng. Người tham lam dù giàu cũng nghèo, người biết đủ mặc dù nghèo cũng giàu có sung túc.

2. Vật cực tất phản

Triết học của Lão Tử chú trọng tính biện chứng để đối đãi sự vật. Ông cho rằng phúc có thể là họa, họa cũng có thể là phúc. “Vật cực tất phản”, ý nói một vật hoặc một sự việc khi đi đến điểm cực độ trong giới hạn thì sẽ phản đảo lại.
Đạo lý của “vật cực tất phản” chính là điều gì cũng nên có chừng mực, đừng quá cưỡng cầu. Nếu không làm được như vậy sẽ khiến sự tình phát triển theo chiều ngược lại. Phàm là việc gì cũng phải lưu lại một phần, nói không thể nói tận, sự tình không thể làm đến đoạn tuyệt. Cũng chính là điều cổ nhân nói: “Lùi một bước suy nghĩ, tất có dư niềm vui”. 
ADVERTISEMENT
“Vật cực tất phản” cũng có ý khuyên bảo con người ở vào lúc vô vọng, thì càng là có thể hy vọng đang ở ngay trước mắt. Thân ở vào nghịch cảnh, chính là cơ hội tốt để tôi luyện bản thân mình.

3. Thận chung như thủy: Cẩn thận lúc cuối như lúc đầu

Lão Tử nói: “Thận chung như thủy, tắc vô bại sự” tức là thận trọng lúc đầu như lúc cuối thì việc sẽ không bị hư. Ông cho rằng đối với bất kể sự tình gì, trước sau đều phải thận trọng, phải thủy chung bảo trì sự nhiệt tâm đối với làm việc, làm được đến nơi đến chốn.
Trong xã hội náo nhiệt ngày nay, vô luận là nảy sinh sự tình gì, chúng ta trước sau đều phải khiêm tốn như cây đào cây mận: “Đào lí bất ngôn, hạ tự thành khê” (Đào mận không tự khoe mình nhưng nhiều người đến hái mà thành đường nhỏ dưới gốc cây) và thận trọng như giẫm trên lớp băng mỏng, như đi bên mép vực sâu (“Như lí bạc băng, như lâm thâm uyên”), kiên trì trước sau như một, không quên cái tâm thuở ban đầu.

4. Phúc họa tương y: Phúc họa nương tựa vào nhau

“Phúc họa tương y” là câu nói nổi danh nhất của Lão Tử, vừa súc tích ngắn gọn lại lột tả hết bản chất mối quan hệ của phúc và họa.
Ẩn chứa sau lưng bất kể sự phồn thịnh nào cũng đều là nguy cơ, mà bản thân nguy cơ cũng lại chứa đựng hy vọng giải thoát khỏi khốn cảnh. Khi gặp họa, cần phải bình tĩnh đối đãi, thuận theo tự nhiên, khi hạnh phúc tới phải thản nhiên không hoan hỷ quá.
Trong cuộc sống hàng ngày, khi chúng ta lâm vào hoàn cảnh không được như ý, gặp phải thất bại và bất lợi cần phải từ trong mối nguy ấy mà tìm được biện pháp giải quyết, không nên ở trong khó khăn mà đánh mất động lực.

5. Tự tri chi minh: Tự mình biết mình

Lão Tử cho rằng một người nghiêm khắc phân tích mình thường thường là người tự hiểu mình. Thế nhưng, phân tích người thì dễ nhưng phân tích bản thân mình lại là việc rất khó, cho nên mới có câu: “Con người quý ở tự biết mình”.
Ở Hy Lạp cổ, trên cửa chính của một ngôi đền có khắc một câu châm ngôn: “Nhận thức chính mình” (tạm dịch). Người Hy Lạp cổ tôn sùng đó là câu nói mà Thần căn dặn con người, là biểu tượng cao nhất của trí tuệ. Có thể nói, tự biết mình là một việc vô cùng quan trọng. Chỉ có chân chính hiểu biết ưu điểm và khuyết điểm của mình mới có thể phát huy được sở trường và tránh được sở đoản của mình.

6. Thiên lý chi hành thủy vu túc hạ: Hành trình vạn dặm bắt đầu từ một bước chân

Lão Tử đã dùng rất nhiều ví dụ để nói lên rằng sự vật luôn phát triển từ nhỏ đến lớn. Ông nói: “Hợp bão chi mộc, sinh vu hào mạt; cửu tằng chi đài, khởi vu lũy thổ; thiên lý chi hành, thủy vu túc hạ”. Nghĩa là, cây to dùng hai tay mới ôm hết là từ cây non nhỏ bé sinh trưởng thành, đình cao chín tầng là được xây từ một mô đất mà thành, hành trình hàng ngàn dặm xa như vậy cũng là được bắt đầu từ bước thứ nhất.
Thời cổ đại có rất nhiều bậc học giả có học vấn uyên bác và tài hoa xuất chúng. Đây không phải là thành quả của một sớm một chiều, cũng không phải tài năng thiên phú mà thực tế, họ đã phải ngồi rách đệm cói hay mài mực thủng nghiên sắt, thì mới có thể học thành tài. Bởi vậy, “Thiên lý chi hành, thủy vu túc hạ” thể hiện ý chí của một người lập chí lập nghiệp, cần phải nhìn xa trông rộng, bắt đầu từ làm việc nhỏ, vừa không thể suy nghĩ viển vông, lại càng không thể chỉ nói lời khoác lác mà chỉ có không ngại gian khó, từng bước từng bước một thực hiện thì mới có thể hoàn thành được mơ ước của mình.
An Hòa

Thứ Hai, 14 tháng 1, 2019

Kỹ thuật môi trường - Ngày 1

1) Các khái niệm cơ bản về môi trường và tài nguyên.
1.1) Khoa học môi trường
Khoa học môi trường nghiên cứu mối quan hệ giữa môi trường và con người trong quá trình phát triển của xã hội. Hay nói một cách khác khoa học môi trường nghiên cứu môi trường sống trong các mối quan hệ kinh tế xã hội nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng, bảo tồn tái tạo và làm phong phú hơn chất lượng của môi trường sống.
Khoa học môi trường là một nghành khoa học rất rộng lớn, phức tạp và có tính liên nghành cao, được dựa trên cơ sở của nhiều nghành khoa học tự nhiên, xã hội và công nghệ như sinh thái học, sinh học, thổ nhưỡng học, đại dương học,...
1.2) Các khái niệm cơ bản về môi trường.
1.2.1 - Khai niệm môi trường;
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên - (Luật bảo vệ môi trường). Bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong môi trường.
Môi trường sống là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của cơ thế sống.
Môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa học, sinh học, xã hội bao quanh và có ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của cá nhân và cộng đồng con người. Môi trường sống của con người là cả vũ trụ bao la. Trong đó có hệ Mặt Trời, trong hệ có Trái Đất là bộ phận ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt nhất.
1.2.2 - Cấu trúc của môi trường :
Trong môi trường sống luôn có sự tồn tại và tương tác giữa các thành phần vô sinh và hữu sinh.
Về mặt vật lý Trái Đất được chia làm 3 quyển vô sinh: khí quyển, thủy quyển và địa quyển;
chúng được các thành bởi các nguyên tố vật chất và chứa đựng năng lượng dưới các dạng khác nhau: quang năng, thế năng, cơ năng, điện năng, hóa năng.
Về mặt sinh học Trái Đất có sinh quyển, bao gồm các cơ thể sống và những bộ phận của thành phần vô sinh tạo nên môi trường sống của các cơ thể này.
a) Thạch quyển (môi trường đất)
Là lớp vỏ Trái Đất có độ dày 60-70 km trên phần lục địa và 2-8 km dưới đáy đại dương. Tính chất vật lý và thành phần hóa học của thạch quyển tương đối ổn định, có ảnh hưởng to lớn đến sự sống trên Trái Đất.
b) Thủy quyển (môi trường nước):
Là phần nước của Trái Đất bao gồm đại dương, sông, hồ, ao, suối, nước ngầm, băng tuyết và hơi nước... Tổng lượng nước $1.454,7x10^6(km^3)$, lượng nước này nếu phủ lên bề mặt Trái Đất sẽ tạo nên 1 lớp nước dày 0.3-0.4m bao gồm nước mặn, nước ngọt và nước lợ. Thủy quyển đóng $1$ vai trò cực kì quan trọng, không thể thiếu được trong việc duy trì cuộc sống của con người, sinh vật và cân bằng khí hậu toàn cầu.
c) Khí quyển (môi trường không khí)
Là lớp không khí bao quanh Trái Đất. Khí quyển đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc duy trì sự sống và quyết định tính chất khí hậu thời tiết trên Trái Đất.
d) Sinh quyển :
Bao gồm các cơ thể sống, thạch quyển, thủy quyển và khí quyển tạo nên môi trường sống của sinh vật. Hay nói một cách khác sinh quyển là thành phần môi trường có tồn tại sự sống. Sinh quyển gồm các thành phần hữu sinh (có sự sống) và thành phần vô sinh có quan hệ chặt chẽ, tương tác phức tạp rời nhau. Khác với các quyển vật lý vô sinh, sinh quyển ngoài vật chất và năng lượng còn chứa các thông tin sinh học với tác dụng duy trì cấu trúc và cơ chế tồn tại, phát triển của các vật sống. Dạng thông tin phức tạp và phát triển cao nhất là trí tuệ con người có tác động ngày càng mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển của Trái Đất.
  Những biến đổi sâu rộng, mạnh mẽ trên Trái Đất, cũng như những hoạt động ban đầu của con người ở trong vũ trụ đều do trí tuệ con người tạo nên. Từ nhận thức đó hình thành khái niệm trí quyển. Trí quyển bao gồm các bộ của Trái Đất, tại đó có tác động của trí tuệ con người. Trí quyển chính là nơi đang xảy ra những tác động to lớn về môi trường mà khoa học môi trường cần đi sâu nghiên cứu.
1.2.3 - Các chức năng cơ bản của môi trường;
Đối với một cá thể con người, cũng như với cộng đồng nhiều người và cả xã hội loài người, môi trường sống có thể xem là có 3 chức năng cơ bản:
- Môi trường là không gian sống của con người.
- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người.
- Môi trường là nơi chứa đựng các phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của minh.
a) Môi trường là không gian sống của con người:
Trong cuộc sống của mình con người cần có một không gian sống và hoạt động với một phạm vi (độ lớn) cũng như một chất lượng nhất định.
Trái Đất, bộ phận môi trường gần gũi nhất của loài người trong hàng trăm triệu năm qua không thay đổi về độ lớn. Trong khi đó dân số loài người trên Trái Đất lại tăng lên theo cấp số nhân. Diện tích bình quân đầu người theo đó giảm sút rất nhanh chóng.
   Sự hạn chế không gian sống còn bị sự phân bố không đều về mật độ dân số càng làm thêm căng thẳng. Tại các vùng đô thị, khu công nghiệp, vùng thâm canh nông nghiệp diện tích đất bình quân đầu người chỉ bằng 1/100 thậm chí 1/1000 trị số trung bình trên toàn Trái Đất.
Một số đề tài nghiên cứu cho thấy rằng mật độ dân số quá đông đúc dẫn đến sự mất ổn định xã hội, tan vỡ gia đình, trẻ em không được nuôi dưỡng giáo dục chu đáo, tội phạm tăng nhiều. Không gian sống quá chật chội gò bó, con người sẽ bị ức chế, hệ thống nội tiết bị đảo lộn, từ đây sinh ra nhiều căn bệnh thần kinh, tuần hoàn, ung thư và dễ dàng bị các nguồn bệnh khác xâm nhập.
   Con người đòi hỏi không gian sống không chỉ về phạm vi rộng lớn mà còn cả về chất lượng. Không gian sống có chất lượng cao trước hết phải sạch sẽ, tinh khiết; cụ thể là không khí, đất, nước tiếp xúc với con người và được con người sử dụng không chứa hoặc chứa ít chất bẩn, độc hại đối với sức khỏe của con người, cảnh quan tươi đẹp, hài hòa, thỏa mãn về thẩm mỹ và tâm lý của con người.
b) Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên:
Môi trường là nơi con người khai thác nguồn lực về vật liệu, năng lượng cần thiết cho cuộc sống và sản xuất của mình. Tất cả các nền sản xuất từ săn bắt, hái lượm, qua nông nghiệp đến công nghiệp đều phải sử dụng các nguyên liệu: đất, nước, không khí, khoáng sản lấy từ Trái Đất và các dạng năng lượng củi, gỗ, than, dầu khí, nắng, gió,... bắt nguồn từ năng lượng Mặt Trời hoặc năng lượng nguyên tử khai thác từ năng lượng tiềm tàng trong vật chất cấu thành Trái Đất.
 Với sự phát triển của văn minh loài người nhiều nguồn vật liệu thiên nhiên không tái tạo trên Trái Đất ngày càng suy giảm. Để khắc phục tình trạng này con người tiến hành thăm dò, khảo sát, khai thác các tài nguyên tiềm tàng trong lòng đất, dưới biển cả để có thêm nguyên liệu mới. Khoa học và công nghệ cũng đã được sử dụng và chế tạo nên các vật liệu nhân tạo thay thế vật liệu thiên nhiên hoặc tổ hợp các tính năng của vật liệu thiên nhiên trong một vật liệu nhân tạo. Vật liệu mới trong nhiều trường hợp là nhân tố tạo nên những tiến bộ quan trọng về khoa học và công nghệ. Nhưng một số trường hợp gây nên những vấn đề gay cấn của môi trường như một số nhựa tổng hợp không thể phân hủy theo con đường tự nhirn hay một số hóa chất trừ sâu diệt cỏ có chu kỳ phân hủy kéo dài nhiều năm.
c) Môi trường là nơi chứa đựng phế thải:
Trong sử dụng nguyên liệu và năng lượng trong cuộc sống sinh hoạt và sản xuất của mình con người chưa bao giờ và hầu như không bao giờ đạt hiệu suất $100%$. Nói cách khác con người luôn tạo ra phế thải: phế thải sinh hoạt và phế thải sản xuất. Môi trường chính là nơi chứa đựng các phế thải đó. Trong các xã hội chưa công nghiệp hóa mật độ dân số thấp, các phế thải thường được tái sử dụng. Các chất bài tiết được dùng làm phân bón, các phế thải từ nông, lâm sản được được dùng làm thức ăn gia súc hoặc nhiên liệu. Những cái không thể tái sử dụng, tái chế thường được phân hủy tự nhiên bởi vi sinh vật sau một thời gian tương đối ngắn để trở lại thành hợp chất hoặc nguyên tố dùng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất mới. Trong xã hội công nghiệp hóa, mật độ dân số cao, lượng phế thải thường rất lớn, không đủ nơi chứa đựng, quá trình phân hủy tự nhiên không đủ sức xử lý. Nhiều chất phế thải không thể phân hủy tự nhiên hoặc có độc tính rất cao với một lượng nhỏ. Vấn đề chứa đựng và xử lý phế thải trở thành vấn đề căng thẳng của môi trường.
1.2.4) Phân loại môi trường :
Tùy theo mục đích và nội dung nghiên cứu môi trường sống của con người được phân thành môi trường thiên nhiên, môi trường nhân tạo và môi trường xã hội.
- Môi trường thiên nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên: vật lý, hóa học và sinh học tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người hoặc ít chịu sự chi phối của con người.
- Môi trường nhân tạo bao gồm những nhân tố vật lý, sinh học, xã hội do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người.
- Môi trường xã hội bao gồm các mối quan hệ giữa người và người tạo nên sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân và cộng đồng của con người.
Sự phân chia này chỉ để phục vụ mục đích nghiên cứu, phân tích các hiện tượng phức tạp trong môi trường. Trong thực tế cả 3 loại môi trường cùng tồn tại, xen lẫn nhau và tương tác với nhau hết sức chặt chẽ. Các thành phần môi trường không tồn tại ở trạng thái tĩnh mà luôn có sự chuyển hóa ở trong tự nhiên, diễn ra theo chu trình và thông thường ở dạng cân bằng.
1.3 - Tài nguyên.
Theo nghĩa rộng tài nguyên là của cải, nghĩa là tất cả những gì có thể dùng vào một mục đích hành động nào đó. Trong khoa học môi trường tài nguyên là tất cả những gì có trong thiên nhiên và trong xã hội có thể phục vụ cuộc sống, sản xuất và các hoạt động khác của con người. Hay nói một cách khác tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn vật liệu, năng lượng, thông tin có trên Trái Đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng phục vụ cuộc sống và sự phát triển của mình.
1.3.2 - Phân loại tài nguyên :
Tài nguyên có thể phân thành 2 loại chính: tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên con người.
- Tài nguyên thiên nhiên là những tài nguyên có sẵn trong tự nhiên, do thiên nhiên hình thành nên, con người có thể khai thác, gia công chế biến để sử dụng vào những mục đích nhất định. Đất, nước, rừng, biển, khoáng sản... là tài nguyên thiên nhiên.
- Tài nguyên con người là sức lao động chân tay, trí thức, tổ chức, thể chế xã hội, tập quán, tín ngưỡng đem lại cho xã hội sức mạnh và khả năng hành động có hiệu quả hơn. Đội ngũ công nhân, cán bộ, người quản lý, pháp luật, cơ quan quản lý kinh tế, đoàn thể xã hội, tôn giáo là những tài nguyên con người.
 Tài nguyên thiên nhiên lại có thể phân thành tài nguyên vật liệu, tài nguyên năng lượng và tài nguyên thông tin.
- Tài nguyên vật liệu là những tài nguyên cấu tạo bằng các nguyên tố vật chất có ở trên Trái Đất.
- Tài nguyên năng lượng bao gồm năng lượng Mặt Trời và các dẫn xuất của nó (như năng lượng nước, gió, sóng...), năng lượng địa nhiệt và năng lượng hạt nhân.
- Tài nguyên thông tin là tài nguyên di truyền sinh học nằm trong gen các sinh vật.
Trong sử dụng cụ thể người ta chia ra tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khí hậu, tài nguyên sinh vật, tài nguyên lao động...
Theo khả năng tái tạo, tài nguyên được phân thành tài nguyên tái tạo được và tài nguyên không tái tạo được.
- Tài nguyên tái tạo được là tài nguyên có thể tự duy trì hoặc được bổ sung một cách liên tục, có thể được thay thế hoặc phục hồi sau một thời gian với điều kiện phù hợp. Ví dụ như năng lượng mặt trời, cây trồng, vật nuôi, nguồn nước, không khí...
- Tài nguyên không thể tái tạo được là tài nguyên tồn tại một cách hạn, sẽ mất đi hoặc hoàn toàn biến đổi, không còn giữ được tính chất ban đầu sau quá trình sử dụng như tài nguyên khoáng sản, dầu mỏ,..., các thông tin di truyền cho đời sau bị mai một.
Theo sự tồn tại, người ta chia tài nguyên thành các loại tài nguyên dễ mất và tài nguyên không bị mất.
- Tài nguyên dễ mất có thể phục hồi hoặc không phục hồi được. Tài nguyên phục hồi được là tài nguyên có thể được thay thế hoặc phục hồi sau một thời gian với điều kiện phù hợp, ví dụ như cây trồng, vật nuôi, nguồn nước bị nhiễm bẩn.
- Tài nguyên không bị mất bao gồm tài nguyên vũ trụ (bức xạ mặt trời, năng lượng thủy triều...), tài nguyên khí hậu (nhiệt, ẩm của khí quyển, năng lượng của gió...) và tài nguyên nước.
1.3.3 - Đặc tính cơ bản của một số tài nguyên phổ biến nhất :
a) Tài nguyên đất :
 Tài nguyên đất là tài nguyên vật liệu có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với con người. Đất là cơ sở của chỗ ở, là địa bàn khai thác các tài nguyên nông, lâm, ngư nghiệp, là nơi xây dựng các cơ sở sản xuất công nghiệp và các cơ sở hạ tầng của xã hội.
  Về số lượng tài nguyên đất được xác định theo diện tích. Về chất lượng, xác định theo độ phì nhiêu cần thiết cho sản xuất nông nghiệp và các nhu cầu sử dụng khác.
 Theo tài liệu quan trắc viễn thám, vào khoảng cuối thập kỷ 1980 tổng số diện tích trên Trái Đất là 14.777 triệu ha, trong đó 1.527 triệu ha bị băng bao phủ và 13.250 triệu ha có mặt đất. Trong diện tích đó có 12% là đất canh tác, 24% là đất đồng cỏ cho chăn nuôi, 32% là đất rừng, 32% là đất cư trú và đất đầm lầy ngập mặn hoặc ngập ngọt. Tỷ lệ các loại đất thay đổi rất nhiều tùy theo điều kiện thiên nhiên và trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng nước và từng vùng. Đất có tiềm năng khai thác nông nghiệp trên toàn Trái Đất khoảng 3.200 triệu ha, hiện nay mới khai thác 1.500 triệu ha.
 Tài nguyên đất trên thế giới nhìn chung đang ở tình trạng suy thoái nghiêm trọng do bị khai thác quá mức với những phương thức không thích hợp, do phá hoại tầng phủ thực vật gây xói mòn, rửa trôi. Ở Hoa Kỳ bình quân mỗi năm khoảng 8,5 triệu ha bị nước và gió xói cuốn đi khoảng 25.000 triệu tấn đất màu mỡ. Trên mỗi ha đất canh tác trung bình bị xói mòn từ 1,8-3,4 tấn đất/năm. Lượng đất dinh dưỡng bị rửa trôi vào khoảng 5,4-8,4 triệu tấn hàng năm, tương đương với sự mất đi của 30-50 triệu tấn lương thực.
   Biến đổi khí hậu kết hợp biện pháp sử dụng đất không hợp lý gây ra sa mạc hóa. Ước tính đến nay 10% đất có tiềm năng khai thác nông nghiệp trên Trái Đất bị sa mạc hóa. Sa mạc Sahara ở Bắc Phi mỗi năm tiến về Địa Trung Hải hàng trăm mét, làm mất đi hằng năm 100.000 ha đất nông nghiệp và đồng cỏ.
 Các biện pháp cải tạo đất, bón phân, tưới tiêu và xả thải nước không hợp lý cũng gây ra tình trạng đất bị ô nhiễm bởi các chất độc. Hàng năm 15% đất trên toàn cầu bị suy thoái vì lý do nhân tạo. Trong đó suy thoái vì xói mòn do nước 55,7% do gió 28%, 12,1% do mất dinh dưỡng. Ở Trung Quốc diện tích đất bị suy thoái 280 triệu ha, chiếm 30% lãnh thổi, ở Ấn Độ mất 3,7 triệu ha đất trồng trọt mỗi năm, khu vực châu Á Thái Bình Dương 860 triệu ha đất bị hoang mạc hóa.
  Nước ta có trên 33 triệu ha, hiện bay được phân bố sử dụng như sau :
- Sản xuất nông nghiệp : 6.993x10^3 ha
- Đất có rừng : 9.395x10^3 ha.\
- Đất chuyên dùng : 972x10^3 ha
(giao thông, vực nước, mỏ)
- Đất ở
- Đất bỏ hoang chưa dùng: 14,925x10^3 ha
(gồm đất bằng 1.035x10^3 ha, đất đồi núi 11.268x10^3 ha).
 Sản xuất nông nghiệp được phân thành 7 vùng kinh tế khác nhau: vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng duyên hải Bắc Trung Bộ, vùng duyên hải Nam Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Đất sản xuất nông nghiệp chủ yếu ở đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Có khoảng trên 5 triệu lúa. Diện tích đất an toàn hơn 2 triệu ha, có khoảng gần 3 triệu ha đất hoặc bị nhiễm mặn hoặc bị phèn. Đất lúa hàng năm bị thu hẹp hàng vạn ha do bị lấn ha đồi núi đã trở thành đồi núi trọc. Do đó bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên đất đã trở thành nhiệm vụ hết sức quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
b) Tài nguyên rừng;
 Rừng là bộ phận hết sức quan trọng trong mối trường sống của con người. Rừng cung cấp cho con người những vật liệu cần thiết, tác động trực tiếp đến sự tồn tại và chất lượng của các tài nguyên khác nhau như không khí, đất, nước và tạo ra những điều kiện thuận lợi cho đời sống và sản xuất của con người.
 Trong lịch sử Trái Đất, khi con người xuất hiện thì rừng nguyên thủy chiếm lĩnh tất cả mặt đất trừ vùng đài nguyên và sa mạc. Ở vùng ôn đới phổ biến là rừng Taiga, ở vùng xích đạo và nhiệt đới là rừng mưa nhiệt đới.
 Rừng có quan hệ chặt chẽ với đất, rừng tham gia vào sự hình thành phát triển của đất và bảo vệ đất. Đất lại là nguồn vật liệu nuôi dưỡng rừng, cho phép rừng sinh trưởng và phát triển. Đất rừng hầu như tự bón phân, cành lá rơi rụng từ cây được vi sinh vật phân hủy đưa trở về dạng các nguyên tố dinh dưỡng cần cho cây hấp thụ để sinh trưởng. Dưới tán lá cây rừng thuần loại lượng mùn lên tới 5-10 tấn/ha/năm, với mức tăng trưởng 300-500 tạ/ha.năm.
  Rừng có tác dụng điều hòa khí hậu do lớp thực vật nhiều tầng tiếp nhận ánh sáng Mặt Trời ngăn cản việc hun nóng mặt đất. Rừng ngăn cách các luồng gió bão bảo vệ các khu dân cư hoặc nông nghiệp. Rừng là nguồn tiêu thụ khí CO2 và cung cấp khí O2. Hàng năm qua các phản ứng quang hợp 1 ha rừng đưa vào khí quyển khoảng 16 tấn O2 tự do, rừng thông 30 tấn/ha, còn cây trồng chỉ từ 3-10 tấn/ha.
  Rừng có tác dụng điều tiết dòng chảy sông ngòi với việc giữ nước trên lưu vực trong mùa mưa lũ và cung cấp lại trong mùa mưa kiệt. Do đó rừng làm cho lũ và hạn hán bớt nghiêm trọng, chế đội thủy văn trên các lưu vực có rừng trở nên điều hòa hơn.
  Rừng còn có giá trị du lịch, phong cảnh, thể thao. Rừng là nơi tàng trữ tài nguyên sinh vật hoang dại. Trong nền kinh tế sơ khai rừng là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm chính cho con người. Trong nền văn minh nông nghiệp, tài nguyên sinh vật góp phần nhất định vào nguồn lương thực, thực phẩm và có vai trò quan trọng do các công dụng, phẩm chất đặc biệt của các sản phẩm sinh vật từ rừng. Trong các nước công nghiệp hóa nguồn gen từ các sinh vật quý hiếm có giá trị đặc biệt trong chăn nuôi, trông trọt và công nghiệp hóa dược.
 Lúc chưa có sự can thiệp của con người rừng chiếm khoảng 6 tỷ ha trên mặt đất. Diện tích này chỉ còn lại 4,4 tỷ ha vào năm 1958 và 3,8 tỷ ha vào năm 1973. Đến năm 1995 diện tích rừng khép kín chỉ còn 2,9 tỷ ha.
 Rừng Việt Nam cung cấp nhiều sản vật quan trọng : gỗ, củi, cây thuốc, cây dùng trong công nghiệp, cây lương thực thực phẩm, cây cảnh, các động vật săn bắt, mật ong... Hiện nay theo ước tính rừng cung cấp cho khoảng 35-45x10^6 m^3 gỗ và củi hàng năm.
  Trong chiến tranh Mỹ đã dùng bom và chất độc hóa học phá hủy khoảng 2 triệu ha rừng ở miền Nam Việt Nam. Hàng năm theo thống kê diện tích rừng bị thu hẹp 200 nghìn ha, nguyên nhân gồm cháy rừng, du canh du cư lấy đất làm nông nghiệp. Mất rừng, sự suy thoái đất do xói mòn tăng nhanh. Chương trình trồng cây gây rừng phủ xanh đất trống đồi trọc hàng năm được 100 nghìn ha.
c) Tài nguyên nước
   Nước là tài nguyên có ý nghĩa quyết định đối với sự sống và phát triển của con người và xã hội loài người. Nước là thành phần cấu thành nên sinh quyển và tác động trực tiếp đến các yếu tố thạch quyển, khí quyển và các nhân tố tác động đến khí hậu thời tiết trong khí quyển. Nước vừa là một tài nguyên vật liệu, vừa là vật mang năng lượng, di chuyển các vật chất có trên Trái Đất dưới dạng hòa tan, lơ lửng hoặc di đẩy trong nước.
 Nước di chuyển theo tuần hoàn nước như là một chu trình thu thập, thanh lọc và phân phối nước một cách liên tục và khắp mọi nơi trên Trái Đất.
  Tổng lượng nước có trên Trái Đất là 1.454x10^6 km^3. Khoảng 94% là nước mặn ở biển và đại dương, khoảng 2% là nước ngọt của các núi băng và băng hà ở 2 cực, khoảng 0,6% là nước ngầm ở tầng nông và tầng sâu. Nước trong khí quyển chiếm 0,001%, trong sinh quyển chiếm khoảng 0,0002% trong sông ngòi tỷ lệ ít nhất, chỉ có 0,00007%. Thực sự con người chỉ dùng cho đời sống của mình khoảng 0,3% lượng nước có ở trên Trái Đất dưới dạng nước ngọt. Trong phần đó thực tế hiện nay chỉ dùng được 1%, vì 99% hiện nay con người không với tới được hoặc nước bị ô nhiễm đến mức nước không xử lý được.
   Sự phân bố nước không đồng đều theo không gian và thời gian làm cho tài nguyên nước hết sức thiếu thốn tại từng nơi, từng mùa, mặt khác lại quá thửa thãi gây ra tai họa khủng khiếp vào mùa mưa lũ lụt.
  Hiện nay trên phạm vi toàn cầu con người dùng 8% trong tổng nước ngọt được khai thác cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp, 63% cho nông nghiệp. Với trình độ hiện nay để sản xuất 1 tấn giấy cần 250 tấn nước.; 1 tấn phân đạm cần 600 tần nước; 1 tấn đường hoặc 1 tấn bột cần khoảng 1000 tấn nước; nhu cầu sinh học của con người và động vật vào khoảng 10 tấn nước/ 1 tấn tế bào sống. Để đáp ứng nhu cầu của mình tại nhiều nơi trên thế giới hiện nay con người đã sử dụng hết nguồn nước mặt và đã khai thác nguồn nước ngầm. So với 3 thập kỷ trước đây lượng nước ngầm được khai thác đã tăng gấp 30 lần. Chất lượng nước có những suy thoái nghiêm trọng. Nồng độ Nitrat của các sông ở châu Âu cao hơn nhiều lần so với tiêu chuẩn sạch, nồng độ phôtpho, thuốc trừ sâu, độ chua đều quá giới hạn cho phép. Theo báo cáo Liên hợp quốc hiện nay chỉ 79% dân thành thị và 31% dân nông thôn được hưởng nước sạch và điều kiện vệ sinh. Bình quân trong 5 người sống ở các nước đang phát triển có 3 người không được uống nước sạch; 80% bệnh tật trong nhân dân các nước này bắt nguồn từ việc dùng nước bị ô nhiễm.
   Ở Việt Nam lượng mưa bình quân năm là 1.900 mm (634 tỷ m^3 nước). Dự trữ ẩm trong đất là 426 tỷ/năm. Việt Nam thuộc nhóm nước giàu tài nguyên nước tại chỗ, ngoài ra còn thu nhận nguồn nước ngoại lai từ Trung Quốc, Lào, Campuchia là 132,8 tỷ m^3. Việt Nam có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc và phân bố tương đối đồng đều trên lãnh thổi, có 2500 sông dài trên 10km với tổng chiều dài trên 52.000 km. Dọc theo bờ biển trung bình 20km có một cửa sông và mật độ lưới sông thay đổi từ 0,5 đến 20km/km^2. Tuy nhiên lượng dòng chảy phụ thuộc vào chế độ mưa.
   Lượng mưa trên lãnh thổ Việt Nam lớn nhưng lại phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu trong các tháng mùa mưa. Lượng mưa lớn lại tập trung nên tạo ra dòng chảy rất lớn. Do tài nguyên nước phân bố không đồng đều và dao động rất phức tạp theo thời gian, việc khai thác nước gặp nhiều khó khăn và phức tạp. Những vùng mưa lớn có modun dòng chảy đạt trên 70 thậm chí 100 l/s/km^3, vùng mưa ít dòng chảy nhỏ có nơi chỉ đạt 5 l/s/km^3, chênh nhau tới 20 lần.
  Trữ lượng nước ngầm có thể khai thác vào khoảng 10 triệu m^3/ngày. Trong các thập kỉ qua nước ngầm bị khác thác quá mức, vượt quá khả năng tự nạp lại một cách tự nhiên. Mực nước tại các giếng khai thác đều bị hạ thấp, có nơi đến hàng chục mét, kèm theo đó là đất bị lún, nước mặn, chưa xâm nhập.
  Điền hình là ở thành phố Hồ Chí Minh, nước ngầm đã khai thác từ 1960 một cách quá mức, do đó đã bị nhiễm mặn buộc phải chuyển sang sử dụng nước mặt. Đến nay sau hơn 30 năm ngừng khai thác mà tầng ngầm vẫn bị mặn chưa hồi phục được.
   Về chất lượng nước ở các vực nước bị suy thoái rõ rệt. Hầu như tất cả các sông hồ ở các đô thị và khu công nghiệp lớn đều bị ô nhiễm. Hai dòng sông chính : sông Hồng và sông Meekong từng đoạn cũng đã bị ô nhiễm . Nước ở các kênh mương, sông vùng đồng bằng đều ít nhiều bị ô nhiễm bởi ký sinh trùng và các sinh vật gây bệnh từ các nguồn phân bắc và phân gia súc không được xử lý. Phần lớn các bệnh viện, nhà máy, khu dân cư đô thị, khu công nghiệp cũ đều không lắp đặt hệ thống xử lý nước thải, tất cả các loại nước thải đều thải ra các vực nước tự nhiên.


Pythagore và thuyết luân hồi

Pythagore và thuyết luân hồi NSGN - Quan niệm tái sinh, luân hồi (saṃsāra) của sinh mạng không phải chỉ riêng có trong tư tưởng Phệ...