Thứ Hai, 14 tháng 1, 2019

Kỹ thuật môi trường - Ngày 1

1) Các khái niệm cơ bản về môi trường và tài nguyên.
1.1) Khoa học môi trường
Khoa học môi trường nghiên cứu mối quan hệ giữa môi trường và con người trong quá trình phát triển của xã hội. Hay nói một cách khác khoa học môi trường nghiên cứu môi trường sống trong các mối quan hệ kinh tế xã hội nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng, bảo tồn tái tạo và làm phong phú hơn chất lượng của môi trường sống.
Khoa học môi trường là một nghành khoa học rất rộng lớn, phức tạp và có tính liên nghành cao, được dựa trên cơ sở của nhiều nghành khoa học tự nhiên, xã hội và công nghệ như sinh thái học, sinh học, thổ nhưỡng học, đại dương học,...
1.2) Các khái niệm cơ bản về môi trường.
1.2.1 - Khai niệm môi trường;
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên - (Luật bảo vệ môi trường). Bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong môi trường.
Môi trường sống là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của cơ thế sống.
Môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa học, sinh học, xã hội bao quanh và có ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của cá nhân và cộng đồng con người. Môi trường sống của con người là cả vũ trụ bao la. Trong đó có hệ Mặt Trời, trong hệ có Trái Đất là bộ phận ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt nhất.
1.2.2 - Cấu trúc của môi trường :
Trong môi trường sống luôn có sự tồn tại và tương tác giữa các thành phần vô sinh và hữu sinh.
Về mặt vật lý Trái Đất được chia làm 3 quyển vô sinh: khí quyển, thủy quyển và địa quyển;
chúng được các thành bởi các nguyên tố vật chất và chứa đựng năng lượng dưới các dạng khác nhau: quang năng, thế năng, cơ năng, điện năng, hóa năng.
Về mặt sinh học Trái Đất có sinh quyển, bao gồm các cơ thể sống và những bộ phận của thành phần vô sinh tạo nên môi trường sống của các cơ thể này.
a) Thạch quyển (môi trường đất)
Là lớp vỏ Trái Đất có độ dày 60-70 km trên phần lục địa và 2-8 km dưới đáy đại dương. Tính chất vật lý và thành phần hóa học của thạch quyển tương đối ổn định, có ảnh hưởng to lớn đến sự sống trên Trái Đất.
b) Thủy quyển (môi trường nước):
Là phần nước của Trái Đất bao gồm đại dương, sông, hồ, ao, suối, nước ngầm, băng tuyết và hơi nước... Tổng lượng nước $1.454,7x10^6(km^3)$, lượng nước này nếu phủ lên bề mặt Trái Đất sẽ tạo nên 1 lớp nước dày 0.3-0.4m bao gồm nước mặn, nước ngọt và nước lợ. Thủy quyển đóng $1$ vai trò cực kì quan trọng, không thể thiếu được trong việc duy trì cuộc sống của con người, sinh vật và cân bằng khí hậu toàn cầu.
c) Khí quyển (môi trường không khí)
Là lớp không khí bao quanh Trái Đất. Khí quyển đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc duy trì sự sống và quyết định tính chất khí hậu thời tiết trên Trái Đất.
d) Sinh quyển :
Bao gồm các cơ thể sống, thạch quyển, thủy quyển và khí quyển tạo nên môi trường sống của sinh vật. Hay nói một cách khác sinh quyển là thành phần môi trường có tồn tại sự sống. Sinh quyển gồm các thành phần hữu sinh (có sự sống) và thành phần vô sinh có quan hệ chặt chẽ, tương tác phức tạp rời nhau. Khác với các quyển vật lý vô sinh, sinh quyển ngoài vật chất và năng lượng còn chứa các thông tin sinh học với tác dụng duy trì cấu trúc và cơ chế tồn tại, phát triển của các vật sống. Dạng thông tin phức tạp và phát triển cao nhất là trí tuệ con người có tác động ngày càng mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển của Trái Đất.
  Những biến đổi sâu rộng, mạnh mẽ trên Trái Đất, cũng như những hoạt động ban đầu của con người ở trong vũ trụ đều do trí tuệ con người tạo nên. Từ nhận thức đó hình thành khái niệm trí quyển. Trí quyển bao gồm các bộ của Trái Đất, tại đó có tác động của trí tuệ con người. Trí quyển chính là nơi đang xảy ra những tác động to lớn về môi trường mà khoa học môi trường cần đi sâu nghiên cứu.
1.2.3 - Các chức năng cơ bản của môi trường;
Đối với một cá thể con người, cũng như với cộng đồng nhiều người và cả xã hội loài người, môi trường sống có thể xem là có 3 chức năng cơ bản:
- Môi trường là không gian sống của con người.
- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người.
- Môi trường là nơi chứa đựng các phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của minh.
a) Môi trường là không gian sống của con người:
Trong cuộc sống của mình con người cần có một không gian sống và hoạt động với một phạm vi (độ lớn) cũng như một chất lượng nhất định.
Trái Đất, bộ phận môi trường gần gũi nhất của loài người trong hàng trăm triệu năm qua không thay đổi về độ lớn. Trong khi đó dân số loài người trên Trái Đất lại tăng lên theo cấp số nhân. Diện tích bình quân đầu người theo đó giảm sút rất nhanh chóng.
   Sự hạn chế không gian sống còn bị sự phân bố không đều về mật độ dân số càng làm thêm căng thẳng. Tại các vùng đô thị, khu công nghiệp, vùng thâm canh nông nghiệp diện tích đất bình quân đầu người chỉ bằng 1/100 thậm chí 1/1000 trị số trung bình trên toàn Trái Đất.
Một số đề tài nghiên cứu cho thấy rằng mật độ dân số quá đông đúc dẫn đến sự mất ổn định xã hội, tan vỡ gia đình, trẻ em không được nuôi dưỡng giáo dục chu đáo, tội phạm tăng nhiều. Không gian sống quá chật chội gò bó, con người sẽ bị ức chế, hệ thống nội tiết bị đảo lộn, từ đây sinh ra nhiều căn bệnh thần kinh, tuần hoàn, ung thư và dễ dàng bị các nguồn bệnh khác xâm nhập.
   Con người đòi hỏi không gian sống không chỉ về phạm vi rộng lớn mà còn cả về chất lượng. Không gian sống có chất lượng cao trước hết phải sạch sẽ, tinh khiết; cụ thể là không khí, đất, nước tiếp xúc với con người và được con người sử dụng không chứa hoặc chứa ít chất bẩn, độc hại đối với sức khỏe của con người, cảnh quan tươi đẹp, hài hòa, thỏa mãn về thẩm mỹ và tâm lý của con người.
b) Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên:
Môi trường là nơi con người khai thác nguồn lực về vật liệu, năng lượng cần thiết cho cuộc sống và sản xuất của mình. Tất cả các nền sản xuất từ săn bắt, hái lượm, qua nông nghiệp đến công nghiệp đều phải sử dụng các nguyên liệu: đất, nước, không khí, khoáng sản lấy từ Trái Đất và các dạng năng lượng củi, gỗ, than, dầu khí, nắng, gió,... bắt nguồn từ năng lượng Mặt Trời hoặc năng lượng nguyên tử khai thác từ năng lượng tiềm tàng trong vật chất cấu thành Trái Đất.
 Với sự phát triển của văn minh loài người nhiều nguồn vật liệu thiên nhiên không tái tạo trên Trái Đất ngày càng suy giảm. Để khắc phục tình trạng này con người tiến hành thăm dò, khảo sát, khai thác các tài nguyên tiềm tàng trong lòng đất, dưới biển cả để có thêm nguyên liệu mới. Khoa học và công nghệ cũng đã được sử dụng và chế tạo nên các vật liệu nhân tạo thay thế vật liệu thiên nhiên hoặc tổ hợp các tính năng của vật liệu thiên nhiên trong một vật liệu nhân tạo. Vật liệu mới trong nhiều trường hợp là nhân tố tạo nên những tiến bộ quan trọng về khoa học và công nghệ. Nhưng một số trường hợp gây nên những vấn đề gay cấn của môi trường như một số nhựa tổng hợp không thể phân hủy theo con đường tự nhirn hay một số hóa chất trừ sâu diệt cỏ có chu kỳ phân hủy kéo dài nhiều năm.
c) Môi trường là nơi chứa đựng phế thải:
Trong sử dụng nguyên liệu và năng lượng trong cuộc sống sinh hoạt và sản xuất của mình con người chưa bao giờ và hầu như không bao giờ đạt hiệu suất $100%$. Nói cách khác con người luôn tạo ra phế thải: phế thải sinh hoạt và phế thải sản xuất. Môi trường chính là nơi chứa đựng các phế thải đó. Trong các xã hội chưa công nghiệp hóa mật độ dân số thấp, các phế thải thường được tái sử dụng. Các chất bài tiết được dùng làm phân bón, các phế thải từ nông, lâm sản được được dùng làm thức ăn gia súc hoặc nhiên liệu. Những cái không thể tái sử dụng, tái chế thường được phân hủy tự nhiên bởi vi sinh vật sau một thời gian tương đối ngắn để trở lại thành hợp chất hoặc nguyên tố dùng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất mới. Trong xã hội công nghiệp hóa, mật độ dân số cao, lượng phế thải thường rất lớn, không đủ nơi chứa đựng, quá trình phân hủy tự nhiên không đủ sức xử lý. Nhiều chất phế thải không thể phân hủy tự nhiên hoặc có độc tính rất cao với một lượng nhỏ. Vấn đề chứa đựng và xử lý phế thải trở thành vấn đề căng thẳng của môi trường.
1.2.4) Phân loại môi trường :
Tùy theo mục đích và nội dung nghiên cứu môi trường sống của con người được phân thành môi trường thiên nhiên, môi trường nhân tạo và môi trường xã hội.
- Môi trường thiên nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên: vật lý, hóa học và sinh học tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người hoặc ít chịu sự chi phối của con người.
- Môi trường nhân tạo bao gồm những nhân tố vật lý, sinh học, xã hội do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người.
- Môi trường xã hội bao gồm các mối quan hệ giữa người và người tạo nên sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân và cộng đồng của con người.
Sự phân chia này chỉ để phục vụ mục đích nghiên cứu, phân tích các hiện tượng phức tạp trong môi trường. Trong thực tế cả 3 loại môi trường cùng tồn tại, xen lẫn nhau và tương tác với nhau hết sức chặt chẽ. Các thành phần môi trường không tồn tại ở trạng thái tĩnh mà luôn có sự chuyển hóa ở trong tự nhiên, diễn ra theo chu trình và thông thường ở dạng cân bằng.
1.3 - Tài nguyên.
Theo nghĩa rộng tài nguyên là của cải, nghĩa là tất cả những gì có thể dùng vào một mục đích hành động nào đó. Trong khoa học môi trường tài nguyên là tất cả những gì có trong thiên nhiên và trong xã hội có thể phục vụ cuộc sống, sản xuất và các hoạt động khác của con người. Hay nói một cách khác tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn vật liệu, năng lượng, thông tin có trên Trái Đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng phục vụ cuộc sống và sự phát triển của mình.
1.3.2 - Phân loại tài nguyên :
Tài nguyên có thể phân thành 2 loại chính: tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên con người.
- Tài nguyên thiên nhiên là những tài nguyên có sẵn trong tự nhiên, do thiên nhiên hình thành nên, con người có thể khai thác, gia công chế biến để sử dụng vào những mục đích nhất định. Đất, nước, rừng, biển, khoáng sản... là tài nguyên thiên nhiên.
- Tài nguyên con người là sức lao động chân tay, trí thức, tổ chức, thể chế xã hội, tập quán, tín ngưỡng đem lại cho xã hội sức mạnh và khả năng hành động có hiệu quả hơn. Đội ngũ công nhân, cán bộ, người quản lý, pháp luật, cơ quan quản lý kinh tế, đoàn thể xã hội, tôn giáo là những tài nguyên con người.
 Tài nguyên thiên nhiên lại có thể phân thành tài nguyên vật liệu, tài nguyên năng lượng và tài nguyên thông tin.
- Tài nguyên vật liệu là những tài nguyên cấu tạo bằng các nguyên tố vật chất có ở trên Trái Đất.
- Tài nguyên năng lượng bao gồm năng lượng Mặt Trời và các dẫn xuất của nó (như năng lượng nước, gió, sóng...), năng lượng địa nhiệt và năng lượng hạt nhân.
- Tài nguyên thông tin là tài nguyên di truyền sinh học nằm trong gen các sinh vật.
Trong sử dụng cụ thể người ta chia ra tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khí hậu, tài nguyên sinh vật, tài nguyên lao động...
Theo khả năng tái tạo, tài nguyên được phân thành tài nguyên tái tạo được và tài nguyên không tái tạo được.
- Tài nguyên tái tạo được là tài nguyên có thể tự duy trì hoặc được bổ sung một cách liên tục, có thể được thay thế hoặc phục hồi sau một thời gian với điều kiện phù hợp. Ví dụ như năng lượng mặt trời, cây trồng, vật nuôi, nguồn nước, không khí...
- Tài nguyên không thể tái tạo được là tài nguyên tồn tại một cách hạn, sẽ mất đi hoặc hoàn toàn biến đổi, không còn giữ được tính chất ban đầu sau quá trình sử dụng như tài nguyên khoáng sản, dầu mỏ,..., các thông tin di truyền cho đời sau bị mai một.
Theo sự tồn tại, người ta chia tài nguyên thành các loại tài nguyên dễ mất và tài nguyên không bị mất.
- Tài nguyên dễ mất có thể phục hồi hoặc không phục hồi được. Tài nguyên phục hồi được là tài nguyên có thể được thay thế hoặc phục hồi sau một thời gian với điều kiện phù hợp, ví dụ như cây trồng, vật nuôi, nguồn nước bị nhiễm bẩn.
- Tài nguyên không bị mất bao gồm tài nguyên vũ trụ (bức xạ mặt trời, năng lượng thủy triều...), tài nguyên khí hậu (nhiệt, ẩm của khí quyển, năng lượng của gió...) và tài nguyên nước.
1.3.3 - Đặc tính cơ bản của một số tài nguyên phổ biến nhất :
a) Tài nguyên đất :
 Tài nguyên đất là tài nguyên vật liệu có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với con người. Đất là cơ sở của chỗ ở, là địa bàn khai thác các tài nguyên nông, lâm, ngư nghiệp, là nơi xây dựng các cơ sở sản xuất công nghiệp và các cơ sở hạ tầng của xã hội.
  Về số lượng tài nguyên đất được xác định theo diện tích. Về chất lượng, xác định theo độ phì nhiêu cần thiết cho sản xuất nông nghiệp và các nhu cầu sử dụng khác.
 Theo tài liệu quan trắc viễn thám, vào khoảng cuối thập kỷ 1980 tổng số diện tích trên Trái Đất là 14.777 triệu ha, trong đó 1.527 triệu ha bị băng bao phủ và 13.250 triệu ha có mặt đất. Trong diện tích đó có 12% là đất canh tác, 24% là đất đồng cỏ cho chăn nuôi, 32% là đất rừng, 32% là đất cư trú và đất đầm lầy ngập mặn hoặc ngập ngọt. Tỷ lệ các loại đất thay đổi rất nhiều tùy theo điều kiện thiên nhiên và trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng nước và từng vùng. Đất có tiềm năng khai thác nông nghiệp trên toàn Trái Đất khoảng 3.200 triệu ha, hiện nay mới khai thác 1.500 triệu ha.
 Tài nguyên đất trên thế giới nhìn chung đang ở tình trạng suy thoái nghiêm trọng do bị khai thác quá mức với những phương thức không thích hợp, do phá hoại tầng phủ thực vật gây xói mòn, rửa trôi. Ở Hoa Kỳ bình quân mỗi năm khoảng 8,5 triệu ha bị nước và gió xói cuốn đi khoảng 25.000 triệu tấn đất màu mỡ. Trên mỗi ha đất canh tác trung bình bị xói mòn từ 1,8-3,4 tấn đất/năm. Lượng đất dinh dưỡng bị rửa trôi vào khoảng 5,4-8,4 triệu tấn hàng năm, tương đương với sự mất đi của 30-50 triệu tấn lương thực.
   Biến đổi khí hậu kết hợp biện pháp sử dụng đất không hợp lý gây ra sa mạc hóa. Ước tính đến nay 10% đất có tiềm năng khai thác nông nghiệp trên Trái Đất bị sa mạc hóa. Sa mạc Sahara ở Bắc Phi mỗi năm tiến về Địa Trung Hải hàng trăm mét, làm mất đi hằng năm 100.000 ha đất nông nghiệp và đồng cỏ.
 Các biện pháp cải tạo đất, bón phân, tưới tiêu và xả thải nước không hợp lý cũng gây ra tình trạng đất bị ô nhiễm bởi các chất độc. Hàng năm 15% đất trên toàn cầu bị suy thoái vì lý do nhân tạo. Trong đó suy thoái vì xói mòn do nước 55,7% do gió 28%, 12,1% do mất dinh dưỡng. Ở Trung Quốc diện tích đất bị suy thoái 280 triệu ha, chiếm 30% lãnh thổi, ở Ấn Độ mất 3,7 triệu ha đất trồng trọt mỗi năm, khu vực châu Á Thái Bình Dương 860 triệu ha đất bị hoang mạc hóa.
  Nước ta có trên 33 triệu ha, hiện bay được phân bố sử dụng như sau :
- Sản xuất nông nghiệp : 6.993x10^3 ha
- Đất có rừng : 9.395x10^3 ha.\
- Đất chuyên dùng : 972x10^3 ha
(giao thông, vực nước, mỏ)
- Đất ở
- Đất bỏ hoang chưa dùng: 14,925x10^3 ha
(gồm đất bằng 1.035x10^3 ha, đất đồi núi 11.268x10^3 ha).
 Sản xuất nông nghiệp được phân thành 7 vùng kinh tế khác nhau: vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng duyên hải Bắc Trung Bộ, vùng duyên hải Nam Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Đất sản xuất nông nghiệp chủ yếu ở đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Có khoảng trên 5 triệu lúa. Diện tích đất an toàn hơn 2 triệu ha, có khoảng gần 3 triệu ha đất hoặc bị nhiễm mặn hoặc bị phèn. Đất lúa hàng năm bị thu hẹp hàng vạn ha do bị lấn ha đồi núi đã trở thành đồi núi trọc. Do đó bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên đất đã trở thành nhiệm vụ hết sức quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
b) Tài nguyên rừng;
 Rừng là bộ phận hết sức quan trọng trong mối trường sống của con người. Rừng cung cấp cho con người những vật liệu cần thiết, tác động trực tiếp đến sự tồn tại và chất lượng của các tài nguyên khác nhau như không khí, đất, nước và tạo ra những điều kiện thuận lợi cho đời sống và sản xuất của con người.
 Trong lịch sử Trái Đất, khi con người xuất hiện thì rừng nguyên thủy chiếm lĩnh tất cả mặt đất trừ vùng đài nguyên và sa mạc. Ở vùng ôn đới phổ biến là rừng Taiga, ở vùng xích đạo và nhiệt đới là rừng mưa nhiệt đới.
 Rừng có quan hệ chặt chẽ với đất, rừng tham gia vào sự hình thành phát triển của đất và bảo vệ đất. Đất lại là nguồn vật liệu nuôi dưỡng rừng, cho phép rừng sinh trưởng và phát triển. Đất rừng hầu như tự bón phân, cành lá rơi rụng từ cây được vi sinh vật phân hủy đưa trở về dạng các nguyên tố dinh dưỡng cần cho cây hấp thụ để sinh trưởng. Dưới tán lá cây rừng thuần loại lượng mùn lên tới 5-10 tấn/ha/năm, với mức tăng trưởng 300-500 tạ/ha.năm.
  Rừng có tác dụng điều hòa khí hậu do lớp thực vật nhiều tầng tiếp nhận ánh sáng Mặt Trời ngăn cản việc hun nóng mặt đất. Rừng ngăn cách các luồng gió bão bảo vệ các khu dân cư hoặc nông nghiệp. Rừng là nguồn tiêu thụ khí CO2 và cung cấp khí O2. Hàng năm qua các phản ứng quang hợp 1 ha rừng đưa vào khí quyển khoảng 16 tấn O2 tự do, rừng thông 30 tấn/ha, còn cây trồng chỉ từ 3-10 tấn/ha.
  Rừng có tác dụng điều tiết dòng chảy sông ngòi với việc giữ nước trên lưu vực trong mùa mưa lũ và cung cấp lại trong mùa mưa kiệt. Do đó rừng làm cho lũ và hạn hán bớt nghiêm trọng, chế đội thủy văn trên các lưu vực có rừng trở nên điều hòa hơn.
  Rừng còn có giá trị du lịch, phong cảnh, thể thao. Rừng là nơi tàng trữ tài nguyên sinh vật hoang dại. Trong nền kinh tế sơ khai rừng là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm chính cho con người. Trong nền văn minh nông nghiệp, tài nguyên sinh vật góp phần nhất định vào nguồn lương thực, thực phẩm và có vai trò quan trọng do các công dụng, phẩm chất đặc biệt của các sản phẩm sinh vật từ rừng. Trong các nước công nghiệp hóa nguồn gen từ các sinh vật quý hiếm có giá trị đặc biệt trong chăn nuôi, trông trọt và công nghiệp hóa dược.
 Lúc chưa có sự can thiệp của con người rừng chiếm khoảng 6 tỷ ha trên mặt đất. Diện tích này chỉ còn lại 4,4 tỷ ha vào năm 1958 và 3,8 tỷ ha vào năm 1973. Đến năm 1995 diện tích rừng khép kín chỉ còn 2,9 tỷ ha.
 Rừng Việt Nam cung cấp nhiều sản vật quan trọng : gỗ, củi, cây thuốc, cây dùng trong công nghiệp, cây lương thực thực phẩm, cây cảnh, các động vật săn bắt, mật ong... Hiện nay theo ước tính rừng cung cấp cho khoảng 35-45x10^6 m^3 gỗ và củi hàng năm.
  Trong chiến tranh Mỹ đã dùng bom và chất độc hóa học phá hủy khoảng 2 triệu ha rừng ở miền Nam Việt Nam. Hàng năm theo thống kê diện tích rừng bị thu hẹp 200 nghìn ha, nguyên nhân gồm cháy rừng, du canh du cư lấy đất làm nông nghiệp. Mất rừng, sự suy thoái đất do xói mòn tăng nhanh. Chương trình trồng cây gây rừng phủ xanh đất trống đồi trọc hàng năm được 100 nghìn ha.
c) Tài nguyên nước
   Nước là tài nguyên có ý nghĩa quyết định đối với sự sống và phát triển của con người và xã hội loài người. Nước là thành phần cấu thành nên sinh quyển và tác động trực tiếp đến các yếu tố thạch quyển, khí quyển và các nhân tố tác động đến khí hậu thời tiết trong khí quyển. Nước vừa là một tài nguyên vật liệu, vừa là vật mang năng lượng, di chuyển các vật chất có trên Trái Đất dưới dạng hòa tan, lơ lửng hoặc di đẩy trong nước.
 Nước di chuyển theo tuần hoàn nước như là một chu trình thu thập, thanh lọc và phân phối nước một cách liên tục và khắp mọi nơi trên Trái Đất.
  Tổng lượng nước có trên Trái Đất là 1.454x10^6 km^3. Khoảng 94% là nước mặn ở biển và đại dương, khoảng 2% là nước ngọt của các núi băng và băng hà ở 2 cực, khoảng 0,6% là nước ngầm ở tầng nông và tầng sâu. Nước trong khí quyển chiếm 0,001%, trong sinh quyển chiếm khoảng 0,0002% trong sông ngòi tỷ lệ ít nhất, chỉ có 0,00007%. Thực sự con người chỉ dùng cho đời sống của mình khoảng 0,3% lượng nước có ở trên Trái Đất dưới dạng nước ngọt. Trong phần đó thực tế hiện nay chỉ dùng được 1%, vì 99% hiện nay con người không với tới được hoặc nước bị ô nhiễm đến mức nước không xử lý được.
   Sự phân bố nước không đồng đều theo không gian và thời gian làm cho tài nguyên nước hết sức thiếu thốn tại từng nơi, từng mùa, mặt khác lại quá thửa thãi gây ra tai họa khủng khiếp vào mùa mưa lũ lụt.
  Hiện nay trên phạm vi toàn cầu con người dùng 8% trong tổng nước ngọt được khai thác cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp, 63% cho nông nghiệp. Với trình độ hiện nay để sản xuất 1 tấn giấy cần 250 tấn nước.; 1 tấn phân đạm cần 600 tần nước; 1 tấn đường hoặc 1 tấn bột cần khoảng 1000 tấn nước; nhu cầu sinh học của con người và động vật vào khoảng 10 tấn nước/ 1 tấn tế bào sống. Để đáp ứng nhu cầu của mình tại nhiều nơi trên thế giới hiện nay con người đã sử dụng hết nguồn nước mặt và đã khai thác nguồn nước ngầm. So với 3 thập kỷ trước đây lượng nước ngầm được khai thác đã tăng gấp 30 lần. Chất lượng nước có những suy thoái nghiêm trọng. Nồng độ Nitrat của các sông ở châu Âu cao hơn nhiều lần so với tiêu chuẩn sạch, nồng độ phôtpho, thuốc trừ sâu, độ chua đều quá giới hạn cho phép. Theo báo cáo Liên hợp quốc hiện nay chỉ 79% dân thành thị và 31% dân nông thôn được hưởng nước sạch và điều kiện vệ sinh. Bình quân trong 5 người sống ở các nước đang phát triển có 3 người không được uống nước sạch; 80% bệnh tật trong nhân dân các nước này bắt nguồn từ việc dùng nước bị ô nhiễm.
   Ở Việt Nam lượng mưa bình quân năm là 1.900 mm (634 tỷ m^3 nước). Dự trữ ẩm trong đất là 426 tỷ/năm. Việt Nam thuộc nhóm nước giàu tài nguyên nước tại chỗ, ngoài ra còn thu nhận nguồn nước ngoại lai từ Trung Quốc, Lào, Campuchia là 132,8 tỷ m^3. Việt Nam có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc và phân bố tương đối đồng đều trên lãnh thổi, có 2500 sông dài trên 10km với tổng chiều dài trên 52.000 km. Dọc theo bờ biển trung bình 20km có một cửa sông và mật độ lưới sông thay đổi từ 0,5 đến 20km/km^2. Tuy nhiên lượng dòng chảy phụ thuộc vào chế độ mưa.
   Lượng mưa trên lãnh thổ Việt Nam lớn nhưng lại phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu trong các tháng mùa mưa. Lượng mưa lớn lại tập trung nên tạo ra dòng chảy rất lớn. Do tài nguyên nước phân bố không đồng đều và dao động rất phức tạp theo thời gian, việc khai thác nước gặp nhiều khó khăn và phức tạp. Những vùng mưa lớn có modun dòng chảy đạt trên 70 thậm chí 100 l/s/km^3, vùng mưa ít dòng chảy nhỏ có nơi chỉ đạt 5 l/s/km^3, chênh nhau tới 20 lần.
  Trữ lượng nước ngầm có thể khai thác vào khoảng 10 triệu m^3/ngày. Trong các thập kỉ qua nước ngầm bị khác thác quá mức, vượt quá khả năng tự nạp lại một cách tự nhiên. Mực nước tại các giếng khai thác đều bị hạ thấp, có nơi đến hàng chục mét, kèm theo đó là đất bị lún, nước mặn, chưa xâm nhập.
  Điền hình là ở thành phố Hồ Chí Minh, nước ngầm đã khai thác từ 1960 một cách quá mức, do đó đã bị nhiễm mặn buộc phải chuyển sang sử dụng nước mặt. Đến nay sau hơn 30 năm ngừng khai thác mà tầng ngầm vẫn bị mặn chưa hồi phục được.
   Về chất lượng nước ở các vực nước bị suy thoái rõ rệt. Hầu như tất cả các sông hồ ở các đô thị và khu công nghiệp lớn đều bị ô nhiễm. Hai dòng sông chính : sông Hồng và sông Meekong từng đoạn cũng đã bị ô nhiễm . Nước ở các kênh mương, sông vùng đồng bằng đều ít nhiều bị ô nhiễm bởi ký sinh trùng và các sinh vật gây bệnh từ các nguồn phân bắc và phân gia súc không được xử lý. Phần lớn các bệnh viện, nhà máy, khu dân cư đô thị, khu công nghiệp cũ đều không lắp đặt hệ thống xử lý nước thải, tất cả các loại nước thải đều thải ra các vực nước tự nhiên.


Thứ Năm, 10 tháng 1, 2019

Đường lối cách mạng Đảng Cộng Sản Việt Nam - ngày 1

Chương mở đầu: Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu môn đường lối cách mạng của đảng cộng sản Việt Nam.
I) Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu.
1) Đối tượng nghiên cứu.
a) Khái niệm "đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam"
- Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của của cách mạng Việt Nam. Trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, vấn đề cơ bản là đề ra đường lối cách mạng và hoạch định đường lối.
- Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam là hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng nhằm thực hiện mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam.
- Đường lối cách mạng của Đảng toàn diện và phong phú. Có đường lối chính trị chung, xuyên suốt cả quá trình cách mạng. Có đường lối cho từng thời kỳ lịch sử. Ngoài ra còn có đường lối cách mạng cho từng lĩnh vực hoạt động.
b) Đối tượng nghiên cứu của môn học
- Đối tượng chủ yếu của môn học là hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng trong tiến trình cách mạng Việt Nam từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa.
- Môn đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam có mối quan hệ mật thiết với môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin và môn Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nắm vững hai môn học này sẽ trang bị cho sinh viên tri thức phương pháp luận khoa học để nhận thức và thể hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng một cách sâu sắc và toàn diện hơn.
2) Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Một là, làm rõ sự ra đời tất yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam - chủ thể hoạch định đường lối cách mạng Việt Nam.
- Hai là, làm rõ quá trình hình thành và phát triển đường lối cách mạng của Đảng. Đặc biệt làm rõ đường lối của Đảng trên một số lĩnh vực trong thời kỳ đổi mới.
- Ba là, làm rõ kết quả thực hiện đường lối cách mạng của Đảng trong tiến trình cách mạng Việt Nam.
II) Phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của việc học tập môn học
1) Phương pháp nghiên cứu.
a) Cơ sở phương pháp luận
Nghiên cứu môn Đường lối cách mạng của Đảng phải dựa trên thế giới quan, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin, các quan điểm có ý nghĩa phương pháp luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng.
b) Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp quan trọng nhất là phương pháp lịch sử và lôgic, ngoài ra còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh...
2. Ý nghĩa của việc học tập môn học
- Trang bị cho sinh viên những hiểu biết cơ bản về sự ra đời của Đảng, về đường lối của Đảng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là đường lối của Đảng trong thời kì đổi mới.
- Bồi dưỡng cho sinh viên niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, định hướng phấn đấu theo mục tiêu, lý tưởng và đường lối của Đảng; nâng cao ý thức trách nhiệm công dân trước những nhiệm vụ trọng đại của đát nước.
- Giúp sinh viên có cơ sở vận dụng kiến thức chuyên nghành để chủ động tích cực giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội,... theo đường lối chính sách của Đảng.
Câu hỏi ôn tập và thảo luận
1. Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu môn Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam?
2. Ý nghĩa của việc học tập môn Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam

Tứ diệu đế của đạo Phật qua góc nhìn khoa học

Tứ diệu đế của đạo Phật qua góc nhìn khoa học

Khoa học và Đạo học chân thực là hai con đường nhận thức cơ bản của loài người, quyện hòa với nhau, bổ sung cho nhau nhằm đưa nhân loại vượt thoát hết mọi phiền não và khổ đau của sinh tử luân hồi đạt tới mục tiêu cao quý là sự giác ngộ Chân lý, và sống An lạc, Hạnh phúc ngay tại cuộc đời này.
Bài viết của PGS. TS. Hà Vĩnh Tân – Viện Vật lý, Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam
Khi còn nhỏ, những câu chuyện cổ tích mà bà và mẹ kể về Bụt đã để lại trong lòng tôi hình ảnh một ông cụ râu tóc bạc phơ đầy từ bi, luôn hiện ra đúng lúc, đúng chỗ, dùng phép lạ cứu giúp muôn chúng sinh qua mọi cảnh khổ nạn:
Dáng Bụt điềm đạm, thanh cao,
Lời Bụt ấm áp, thấm vào tâm ta
Lòng Bụt rộng mở bao la,
Mắt Bụt thấu hiểu, chan hòa tình thương
Lớn lên, trở thành một Phật tử, tôi mới hiểu ra rằng Bụt không dùng phép lạ để cứu giúp chúng ta, mà Bụt chỉ trao truyền cho chúng ta những phương pháp để tự mình tu tâm, dưỡng tính, hoàn thiện nhân cách và hơn nữa cho chúng ta một nghệ thuật sống và làm việc để mang lại niềm hạnh phúc đích thực cho chính mình và mọi người, theo tinh thần “tự độ độ tha, tự giác giác tha”.
Tâm thông hết thảy đều không,
Tâm mê có mắt mà không thấy đàng,
Phật trao ta Ánh đạo vàng,
Tự mình khám phá thiên đàng Tự Tâm
Trong bài ngắn này tôi xin thử lý giải giáo lý Tứ diệu đế từ góc độ khoa học, chia sẻ tâm nguyện của mình với những ai quan tâm đến việc hiện đại hóa Đạo Phật, và kết hợp Phật Pháp với khoa học kỹ thuật trong việc truyền bá và áp dụng vào cuộc sống.
Như ta biết, Tứ diệu đế là bài thuyết pháp đầu tiên của Phật sau khi thành Đạo cho năm anh em A nhã Kiều Trần Như, diễn ra tại vườn Lộc Uyển, về phía bắc thành Ba la nại. Xem lại đoạn Phật thuyết giảng về Tứ diệu đế trong kinh Chuyển pháp luân – bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu, ta cảm nhận sâu sắc rằng, Tứ diệu đế chính là một trong những tuệ giác sáng chói nhất của Phật. Ngài đã tìm ra sự thật đen tối nhất của cõi đời là bệnh, già, chết và sự phiền não thường trực trong lòng mỗi người, ngài gọi là Khổ (Khổ đế). Sự thật thứ hai ngài tìm ra là nguyên nhân đau khổ, ngài gọi là Khổ tập (Tập đế). Sự thật thứ ba ngài tìm ra là pháp môn tu tập để dứt trừ nguyên nhân đau khổ, ngài gọi là Khổ tập diệt (Diệt đế). Và sự thật thứ tư ngài tìm ra là con đường cho mọi người đi tới hạnh phúc, an vui vĩnh cửu, ngài gọi là Khổ tập diệt đạo (Đạo đế).
Thiền sư Minh Đăng Quang trong bộ sách “Chân Lý” có luận giảng một cách hình ảnh về vai trò then chốt của giáo lý Tứ diệu đế như sau:
“Pháp chánh giác có ra là do tứ diệu đế. Pháp là chính giác, là pháp của trong tứ diệu đế, do tứ diệu đế sinh ra. Chánh giác là Pháp, là tiếng trống, tứ diệu đế là dùi trống, mặt đất cõi đời là mặt trống, Bởi có mặt trống, Phật mới chỉ ra dùi trống, dùi chạm mặt, mới sinh ra tiếng trống, tiếng ấy là pháp chánh giác. Còn chúng sanh là người nghe.
Bởi chúng sanh sầu khổ, nên Phật mới nói rằng: Này là khổ, vấn đề, đề mục khổ. Này nguyên nhân sanh ra khổ, là tập, vấn đề, đề mục tập. Này phép diệt khổ, là diệt, vấn đề, đề mục diệt. Này là Đạo diệt luân hồi khổ, vấn đề, đề mục đạo. Đạo là con đường đi sau khi diệt luân hồi khổ. Diệt là diệt bỏ 12 nhân duyên tập của luân hồi. Tập là sanh tử luân hồi, để chứa khổ, khổ là bởi tập luân hồi, vì không diệt đạo”.
Phương pháp mầu nhiệm diệt khổ đau trong Giáo lý Tứ diệu đế của Phật tổ Thích Ca Mâu Ni đã được trao chuyền qua bao trái tim khối óc bao người, vượt bao sự thăng trầm biến động của lịch sử, ngày nay may mắn lại đến tận tay và đi vào tâm trí thế hệ chúng ta. Được sống và tu nương vào ánh sáng của Tứ diệu đế, ta xin chân thành cảm ơn Người:
“Tâm viên, ý mã” khổ làm sao,
Sai khiến ta đi khắp nẻo nào,
Ơn Phật phát minh Pháp mầu nhiệm,
Phục tâm kiềm ý tuyệt biết bao”
Là người nghiên cứu khoa học lại có duyên nghiên cứu Phật Pháp, tôi nhận thấy trong giáo lý của Phật cũng hàm chứa một cách vi diệu, những phương pháp luận có nhiều điểm tương đồng với phương pháp luận khoa học.
Chúng ta biết rằng, khoa học là một động lực quan trọng trong quá trình nhận thức và tiến hóa của nền văn minh nhân loại. Rất nhiều nhà khoa học đã có những phát minh quan trọng, cũng như chịu sự hy sinh to lớn vì bảo vệ chân lý nha Nicôlai Côpecnich hay Galileo Galilei. Tôi muốn nhắc tới trong số các nhà khoa học cận đại như: Thomas Edison, nhà phát minh công nghệ vĩ đại với 1.093 bằng sáng chế riêng tại Hoa Kỳ, Albert Einsntein – nhà vật lý học vĩ đại đặt nền móng cho vật lý hiện đại với năng lượng hạt nhân và khoa học kỹ thuật không gian, hay Von Neumann – nhà toán học lỗi lạc, mà riêng sự phát minh ra máy tính điện tử của ông đã đem đến cho chúng ta một loạt các thiết bị khoa học kỹ thuật cốt lõi của kỷ nguyên văn minh thông tin.
Nhân loại đã chế tạo ra các công cụ lao động và sáng tạo ra cả các phương pháp tư duy cùng các thiết bị nghiên cứu khoa học. Các phương pháp hay các lập luận khoa học là một quá trình, thường được trình bày như các bước nối tiếp nhau theo một trình tự logic. Có một nhận xét đáng chú ý là: đa số các quá trình lập luận này mang tính tuần hoàn, còn gọi là “chu trình lôgic”. Có nghĩa là, cứ sau một số bước nhất định, các bước lại được lặp lại. Ở đây tôi xin gọi là các phương pháp luận có bốn bước trong một chu trình là “Tứ đoạn luận pháp”.
Các Tứ đoạn luận pháp trong thực tế gồm bốn bước lặp đi lặp lại theo chu trình, nhưng sau mỗi một vòng quay lại được điều chỉnh thành tốt hơn, hoàn thiện hơn, cuối cùng là đi đến kết quả mong muốn. Để làm sáng tỏ khái niệm Tứ đoạn luận pháp trong thực tiễn, chúng ta hãy hình dung Tứ đoạn luận pháp này như hình ảnh các bực thang trên một chiếc cầu thang xoay trôn ốc trong nhà, mà cứ bước thứ tư sau đó lại nằm ngay trên bước ấy theo chiều thẳng đứng (bước thứ 5 nằm ngay trên bước thứ 1).
Đến đây chắc độc giả có thể đặt câu hỏi: Tứ diệu đế có phải là một Tứ đoạn luận pháp không? Nếu hiểu Tứ diệu đế như một sự thực tập, cũng như các phương pháp khoa học là dùng để áp dụng vào cuộc sống thực tiễn, thì Tứ diệu đế phải được coi như một Tứ đoạn luận pháp.
Phật chỉ ra một sự thật là trong cuộc đời này, chúng sinh gặp bao nhiêu phiền não, sầu khổ về hoàn cảnh, về thể xác và tâm hồn. Phật trao cho chúng ta Tứ diệu đế như một sự thực tập, một phương pháp tu tập nhằm giúp con người tự mình giải phóng khỏi mọi phiền não khổ đau, đi đến niềm hạnh phúc an lạc, đích thực. Có một vị thiền sư đã nói rằng:”Tứ diệu đế không phải là một lý thuyết, tứ diệu đế là một công trình thực tập. Tứ diệu đế không chỉ là nguyên tắc của sự thực tập, tứ diệu đế là bản thân của sự thực tập” giúp ta giải thoát khỏi u minh – nguồn gốc của mọi phiền não khổ đau, đi đến mục tiêu là giác ngộ chân chính và xây dựng Tịnh độ trong tâm mỗi con người và trên cả thế gian này.
Ta có một nhận xét thú vị là, những phương pháp luận mang tính tứ đoạn luận trong thực tiễn khoa học thuộc loại rất phổ biến và thường là phương pháp tổng quát (general method) trong việc giải quyết vấn đề (problem solving), thu nhận kiến thức (obtaining knowledge), và phát minh bí quyết công nghệ (obtaining know-how).
Đây chính là các phương pháp luận quan trọng nhất trong thực tiễn:
1. PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC (Scientific method) dùng trong nghiên cứu và phát minh khoa học nói chung, à ở đây ta gọi là tứ đoạn luận “Khoa học”.
Bây giờ ta xem xét cụ thể các bước trong tứ đoạn luận “Khoa học” là:
  • Bước 1– Mô tả đặc tính (Charaterization from experience and observation): Mô tả đặc tính của hiện tượng vấn đế.
  • Bước 2– Lập giả thiết (Hypothesis: a proposed explanation): Đặt giả thiết, căn cứ để giải thích.
  • Bước 3- Suy luận lôgic (Deduction: prediction from the hypothesis): Các suy luận, tiên đoán từ giả thiết.
  • Bước 4– Kiểm chứng (Test and experiment): Các phép thử và thí nghiệm kiểm chứng
  • Bước 5– (lặp lại bước 1 ở mức độ cao hơn) Lại mô tả đặc tính mới: Mô tả đặc tính của hiện tượng một cách đúng hơn chi tiết hơn.
2. PHƯƠNG PHÁP TOÁN HỌC (Mathematical method) dùng riêng trong nghiên cứu và sáng tạo toán học, mà ở đây ta gọi là tứ đoạn luận “Toán học”.
Các bước trong tứ đoạn luận “Toán học”.
  • Bước 1- Sự hiểu (Understanding): Đây là sự hiểu tương đối xuất phát về đối tượng.
  • Bước 2- Phân tích (Analysis): Sự mổ xẻ đi sâu vào chi tiết sự hiểu của mình so với thực tại.
  • Bước 3- Tổng hợp (Synthesis): Tập hợp hay tích hợp lại những sự phân tích và nhận xét lẫn phát hiện mới của ta thu được trong sự mổ xẻ cái đã hiểu lại.
  • Bước 4- Tổng quan và mở rộng (Review/ Extend): Liên hệ với những điều ta hoặc người ta đã biết khác mở rộng cái hiểu bao quát hơn.
  • Bước 5- (lặp lại bước 1 ở mức độ cao hơn): Lại làm mới thêm sự hiểu: Ta thu được cái hiểu mới về đối tượng nghiên cứu.
3. PHƯƠNG PHÁP THỬ VÀ SAI MỞ RỘNG (Generalized trial and error method) dùng phổ biến trong nghiên cứu và phát minh các bí quyết công nghệ (know-how), mà ở đây ta gọi tắt là tứ đoạn luận “Thử và sai”.
Các bước trong tứ đoạn luận “Thử và sai” là:
  • Bước 1- Thử (Trial) Mô tả phép thử làm một việc nào đó với một ý tưởng xuất phát, thử dùng một phương pháp, một công cụ phương tiện mà mình cho là hợp lý, thử lên một kế hoạch nhằm đạt một mục đíhc mong muốn nào đó…
  • Bước 2- Sai (Error): Sau khi thử thực hiện những điều đã dự định, kết quả thu được lại không như ý, hoặc không đúng như ta dự báo, mong muốn…
  • Bước 3- Phân tích (Analysis): Phân tích tìm hiểu ngọn ngành nguyên nhân cái sai nằm ở đâu.
  • Bước 4- Sửa sai (Correction): Có nghĩa, tìm ra cách khác mà ta cho là tốt hơn và không chứa những điều sai mà ta đã nhận ra ở bước “hiểu cái sai”.
  • Bước 5- (lặp lại bước 1 ở mức độ cao hơn) Lại thử thêm lần nữa: Tiếp tục thử một lần nữa ới sự khắc phục hay loại trừ cái sai.
Cả ba phương pháp tứ đoạn luận nói trên đều chung một đặc tính là gồm bốn bước lặp lại theo chu trình đi lên. Nếu phân tích chung sâu hơn, ta sẽ nhận thấy các tứ đoạn luận này về ý nghĩa hay logic có bản chất tương tự nhau, và chỉ chia làm 3 phương pháp khác nhau về hình thức để áp dụng cụ thể cho phù hợp với 3 đối tượng khác nhau mà thôi.
Nhìn lại cuộc sống, ta có thể dễ dàng nhận ra một sự thật là: Khi ta không làm việc gì thì nói chung là không sao, còn nếu a cứ làm một việc gì đó thì xme kỹ lại vẫn tìm ra được những điều sai sót (không lớn thì nhỏ). Như vậy, “sai và thiếu” là những điều mà khó ai có thể tránh khỏi, nên chúng không đáng làm ta lo sợ. Điều đáng sợ hơn chính là khi ta không nhận ra các sai lầm đó để quyết tâm sửa chữa. Đây chính là bản chất của Phương pháp “Thử và Sai”.
Điều này tương tự như Bản chất của phương pháp “Tứ diệu đế” mà Phật đã giác ngộ và chỉ ra cho chúng ta: mọi sự đau khổ của cuộc đời không phải là Định mệnh, mà chúng ta đành cam chấp nhận. Ngược lại, chính bằng sự tu tập theo phương pháp “Tứ diệu đế” ta có thể giải thoát mọi khổ đau của cuộc đời.
Để làm nổi bật cách vận hành của Tứ diệu đế trong sự tu tập, ta hãy so sánh sự tương đồng của Tứ đoạn luận “Tứ diệu đế” với Tứ đoạn luận “Thử và sai” qua bảng sau:
Các bướcThử và SaiTứ Diệu Đế
1Sai lầmKhổ đế – những sự khổ
2Hiểu nguyên nhân sai lầmKhổ Tập đế – hiểu nguyên nhân của khổ
3Sửa nguyên nhân sai lầmKhổ Tập Diệt đế – Tìm phương pháp diệt khổ
4Thử sau khi Sửa nguyên nhân sai lầmĐạo Khổ Tập Diệt đế – Con dường diệt khổ
5
Lại vẫn còn Sai lầm khác
Quay lại Khổ đế ở mức khác
Ta thử phân tích và so sánh kỹ hơn bảng trên:
Bước 1: Khổ đế nha một Sự thật nhưng lại không phải “Sự thật tất yếu, không sửa chữa được”, mà đó chỉ là một sự thật xảy ra trong tâm ta do hoàn cảnh tác động, gây đau khổ cho ta cũng chỉ giống như một Sai lầm của nhân thức mà ta hoàn toàn có thể sửa chữa được.
Bước 2: Sự thật này có nguyên nhân của nó (Khổ Tập đế), mà khi ta hiểu ra như hiểu “nguyên nhân của Sai lầm”.
Bước 3: Khi hiểu nguyên nhân rồi ta sẽ loại trừ được nó (Khổ Tập Diệt đế) như việc sửa chữa nguyên nhân Sai lầm.
Bước 4: Bước cuối cùng trong chu trình này là ta lại tiếp tục sống và làm việc, hoạt động theo cách đúng đắn với những nguyên nhân của Sai lầm đã được nhận ra một phần và đã được sửa chữa một phần (Đạo Khổ Tập Diệt đế). Đến đây chu trình lại quay lại từ đầu nhưng ở mức hoàn thiện hơn sau quá trình tu tập:
Bước 5: Đúng như những gì xảy ra trong thực tiễn, Sai lầm là có, tuy nhiên chưa thể dễ dàng nhận ra được hết nó, và cũng chưa thể sửa chữa hết ngay những sai lầm đã hiểu nguyên nhân, nên trong quá trình sửa chữa ta lại vẫn còn có Sai lầm khác… cứ thế bước 5 này chính là quay lại bước 1 ở mức hoàn thiện cao hơn mà thôi.
Phân tích đến đây, tôi nhớ lại đoạn văn tả lại giây phút Phật thành đạo trong cuốn “Đường xưa mấy trắng” (tác giả Thích Nhất Hạnh): vào một buổi sáng bình minh, sau 49 ngày đêm ngồi thiền dưới gốc cây Bồ đề cổ thụ, Siddhatta (tên của Phật lúc đó) bừng mở mắt và chợt thấy “sao Mai hiện ra như một ngôi sao mới, chói sáng và lấp lánh mừng vui như nụ cười giác ngộ. Ông sững nhìn ngôi sao Mai rồi buột miệng lên tiếng: “Lạ thay, tất cả mọi chúng sanh đều có sẵn hạt giống của trí tuệ giác ngộ trong lòng. Vậy mà trong ngàn muôn ức kiếp cứ để cho tự mình lặn ngụp trong biển sinh tử khổ đau thật đáng thương”. Siddhatta biết rằng đạo lớn đã được tìm ra, và hoài bão lớn của ông đã đạt được với một tâm hồn an lạc thư thái…”
Ngay ở chỗ này mà tôi chợt nhận ra một điều, Phật cũng chính là một nhà khoa học, một nhà khoa học tâm linh vĩ đại. Bằng công trình thực nghiệm thiền quán 49 ngày đêm (trên chính bản thân mình), Phật là người đầu tiên nhận ra một chân lý, như một phát minh vĩ đại trong lịch sử nhân loạt thuộc lĩnh vực khoa học nhân văn: “Tất cả mọi người đều có sẵn hạt giống của trí tuệ giác ngộ trong lòng”.
Phật gọi hạt giống của trí tuệ giác ngộ là Giác tính, còn ngày nay chúng ta thường còn gọi là “Phật tính”. Và các phương pháp mà Phật dạy truyền cho chúng ta nhằm tự tu tập để tiến tới giác ngộ và giải thoát là “Phập pháp”. Điều này giống như trong khoa học, người ta gọi bảng tuần hoàn của các nguyên tố là bản tuần hoàn Meldeleev theo tên nhà hóa học lỗi lạc Dmitri Ivannovich Mendeleev đã phát minh ra nó hay như Lý thuyết tương đối Einstein theo tên nhà vật lý vĩ đại Albert Einstein đã viết ra nó…
Nhận ra Giác tính trong tâm mình và cùng lúc trong mọi chúng sinh, ngài không dừng ở việc nhận biết cái khổ của nhân loại (Khổ đế), ngài đẩy xa hơn ánh sáng trí tuệ của mình tới việc tìm ra nguyên nhân đau khổ. Vâng, đây là một logic tất yếu sau khi ta coi Khổ đế là một sai lầm của nhận thức. Vì thấy sự đau khổ đó là do Sai lầm nên Ngài quan sát sâu sắc cái sai lầm dưới cái nhìn thiền quán và đã bước sang Thấu hiểu sai lầm, mà ngài gọi là Tập đế (Khổ tập đế).
Tìm được nguyên nhân của đau khổ rồi ngài lại tìm ra phương pháp, pháp môn tu tập để dứt trừ nguyên nhân đau khổ. Nếu Khổ tập đế là hiểu cái sai lầm, thì theo sự so sánh như trên ta thấy ngài bước tiếp một bước nữa sang sửa cái sai lầm, mà ngài gọi là Diệu đế (Khổ tập diệt đế).
Diệt xong khổ, ngài còn tìm và chỉ ra con đường cho mọi người đi tới cảnh giới hạnh phúc, an vui vĩnh cửu, ngài gọi là Đạo đế (Khổ tập diệt đạo đế). Đây chính là bước cuối cùng thử sau khi sửa sai lầm.
Vấn đề khi ta áp dụng tứ đoạn luận pháp chính là tính lặp lại theo chu kỳ đi lên. Tức là sau khi Thử sau khi sửa sai lầm ta thường không đạt được cái đúng ngay. Tương tự, ở đây trong quá trình tu tập Đạo đế ta chưa thể đạt được sự an lạc thảnh thơi hoàn toàn, có nghĩa là ta vẫn còn ít nhiều cái khổ. Nói cách khác ta vẫn còn cái sai lầm. Nhưng cái sai lầm này (ở bước 5) đã khác hơn cái sai lầm trước đó (ở bước 1) ở chỗ sai ít hơn hoặc sai dễ sửa hơn, và ta hãy yên tâm là mình đang tiến dần đến mục tiêu hơn qua mỗi chu trình thực tập.
Việc so sánh Tứ diệu đế với Phương pháp luận khoa học như trên còn giúp tôi nhận thức ra một sự thật quan trọng nữa: Khoa học và Đạo học chân thực là hai con đường nhận thức cơ bản của loài người, quyện hòa với nhau, bổ sung cho nhau nhằm đưa nhan loại vượt thoát hết mọi phiền não và khổ đau của sinh tử luân hồi đạt tới mục tiêu cao quý là sự giác ngộ Chân lý, và sống An lạc, Hạnh phúc ngay tại cuộc đời này.

Đơn thuốc của Đạo Phật trong thời kinh tế thị trường, Chủ nghĩa Tư bản
Các bướcNguyên tắc hướng dẫnTứ Diệu Đế
1Cuộc đời có đau khổ:
– Chủ nghĩa tiêu thụ thái quá
– Ảo tưởng, hoang đường về thịnh vượng, hạnh phúc, trường tồn
– Thiếu giá trị dẫn dắt, trừ bị dẫn dắt bởi lòng tham, ham muốn
– Sự hung hăng, gây hấn, lòng tham, thù hận và vô mình
Khổ đế – những sự khổ:
Gồm tất cả những cảm giác, kinh nghiệm không vừa ý về vật chất (đau ốm, thất nghiệp, cháy nhà, phá sản) và về tinh thần (ảo tưởng, chán nản, lo lắng, thương tiếc).
Chúng lúc phát sinh, lúc biến đi – vô minh.
2Nguyên nhân cuộc đời đau khổ là Ham muốn và Vướng mắc:
– Lòng tham: không bao giờ biết đủ, thiếu vắng niềm tin làm cho đau khổ
– Cạnh tranh không giới hạn
– Mọi cái không sinh lời đều đáng vứt bỏ (coi thường tinh thần)- Giả định không lành mạnh: chấp nhận lòng tham, hận thù và thỏa mãn cá nhân; không chấp nhận luật nhân quả
Khổ Tập đế – hiểu nguyên nhân của khổ:
Tam độc là nguyên nhân của đau khổ cho ta và cho người khác:
– 1. Tham (lòng tham, ham muốn, quyến luyến).
– 2. Sân (giận dữ, ghét bỏ)
– 3. Si (vô minh, mê mờ, ngu dốt)
3Sửa nguyên nhân sai lầm:
– Các mối quan hệ công bằng phụ thuộc, tin cậy lẫn nhau
– Sự hợp tác không ích kỷ
– Các hành động dựa trên ý nghĩ và ý định tích cực
– Hạnh phúc là sự ưu tiên
Khổ Tập Diệt đế – Tìm phương pháp diệt khổ
Giải thoát khỏi đau khổ – vô minh bằng cách nhận rằng tích lũy vật chất, của cải chẳng có ích lợi gì cho cuộc sống tinh thần của ta. Việc bám víu vào đau khổ và giải thoát ta khỏi vòng luân hồi của ham muốn là kết quả của ý nghĩ và hành động của chúng ta.
4Thoát khỏi đau khổ: Sau khi Sửa nguyên nhân sai lầm:
– Tuân đúng luật Nhân quả (nhận thức được mọi hành động đều có hậu quả của nó)
– Trí tuệ: hành động theo giá trị chung, xây dựng với vô thường
– Giảm những bấu víu, tích cực đóng vào sự cân bằng và hòa hợp chung; phù hợp với tầm nhìn xã hội
– Phát triển tâm linh, tinh thần
– Lợi nhuận và hạnh phúc là bình đẳng với nhau
– Làm việc có trách nhiệm với sản phẩm và dịch vụ
– Tạo nên xã hội tốt đẹp hơn là trách nhiệm xã hội
Đạo Khổ Tập Diệt đế – Con đường diệt khổ
.
Bát Chánh đạo là con đường thoát đau khổ và ham muốn.1. Chánh kiến: có hiểu biết chân chính
2. Chánh tư duy: tư duy lành mạnh, khước từ tham vọng, ý định thiện chí và không gây hại
3. Chánh ngữ: ngôn ngữ luôn bắt nguồn từ tâm (trung thực, không làm tổn hại, không xúc phạm, không lăng mạ, tránh chuyện tầm phào)
4. Chánh nghiệp: hành động dựa trên chánh tư duy, đạt kết quả không gây hại.
5. Chánh mạng: kiếm sống đúng luật, có đạo đức và phẩm hạnh
6. Chánh tinh tấn: từ tốn, chậm rãi, tránh những trạng thái tiêu cực cho tâm
7. Chánh niệm: hiểu rõ cách sử dụng tâm để rèn tâm sắc bén như một kỹ năng sống
8. Chánh định: sử dụng tâm để có những lựa chọn và quyết định khôn ngoan
5Lại vẫn còn Sai lầm khác
Quay lại Khổ đế ở mức khác
Theo TẠP CHÍ PHẬT HỌC

Thứ Tư, 9 tháng 1, 2019

Giả thuyết về ẩn ý họ tên Người – Hồ Chí Minh

Giả thuyết về ẩn ý họ tên Người – Hồ Chí Minh

Nhân kỷ niệm 127 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tiến sĩ Nguyễn Viết Thịnh chia sẻ một bài viết về giả thuyết ẩn ý trong họ và tên của Người.
LTS: Nhân kỷ niệm 127 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tiến sĩ Nguyễn Viết Thịnh (Trường Đại học Tiền Giang) chia sẻ một bài viết về giả thuyết ẩn ý trong họ tên của Người - Hồ Chí Minh.
Tòa soạn trân trọng gửi đến cùng độc giả.
Vào năm 1940, ở tuổi “tri thiên mệnh”, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã quyết định đổi tên thành Hồ Chí Minh và giữ mãi họ tên này.
Điều khó hiểu nhất là tại sao Người lại chuyển từ họ Nguyễn sang họ Hồ, phải chăng Người có ẩn ý?
Để tìm hiểu, nghiên cứu tư tưởng của một học giả, một triết gia, một vĩ nhân nhằm tìm ra những chân lý trong tư tưởng của họ thì không chỉ nghiên cứu những gì họ để lại qua học thuyết, tài liệu, những lời truyền khẩu mà còn phải tìm hiểu, nghiên cứu hoàn cảnh sống trong thời đại của họ …
Chủ tịch Hồ Chí Minh. (Ảnh: Tư liệu)
Trước hết chúng ta thử tìm hiểu những nét chính trong đời sống và tư tưởng của Người.
Sinh thời, Bác Hồ am hiểu nhiều hệ tư tưởng khác nhau để từ đó chọn lọc và hấp thu những tinh hoa tư tưởng cho mình.
Người đã từng nói “…Khổng Tử, Giê su, Các Mác, Tôn Dật Tiên, … đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội.
Nếu họ còn sống trên đời này và họp lại một chỗ, tôi tin rằng nhất định họ chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy …”[1].
Trong vấn đề tư tưởng, Trò có thể xưng hô với Thầy như vậy dù họ sống cách xa nhau hàng thế kỷ.
Cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ đã chứng minh cho những gì Người nói.
Tuổi thơ, Người đã được tắm mình trong nền minh triết phương Đông qua những lần được nghe Cụ Nguyễn Sinh Sắc và những người bạn đàm đạo.
Tuy nhiên lúc tuổi thơ, ý chí và tình cảm của Người cũng được tôi luyện khi phải vượt qua nỗi đau tột cùng với cảnh Mẹ bệnh mất khi Cha đang làm việc ở xa, rồi người em cũng mất vì khát sữa, vì thiếu bàn tay Mẹ …
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một học trò xuất sắc và gần gũi của Người đã từng bộc lộ “… Bác Hồ thường xem Khổng Tử là Người Thầy vĩ đại về đạo đức, Bác thích sống hòa nhập với thiên nhiên theo tinh thần của Lão Tử …”[1].
Ngôi nhà sàn của Bác với thảm thực vật và cảnh sắc thiên nhiên hữu tình trong khuôn viên Phủ Chủ tịch là một minh chứng.
Nhà sàn Bác Hồ. (Ảnh: wikipedia.org)
Tóm lại, có thể nói rằng trước khi tìm hiểu, hấp thu những tinh hoa của minh triết Phương Tây, Bác Hồ đã thấm nhuần những tinh hoa của minh triết Phương Đông.
Khi xem xét đặc tính của con người, triết học Phương Đông chỉ ra ba nhân tố khái quát là “Nhân Trí Dũng” hoặc “Bi Trí Dũng”.
Nhân hay Bi tượng trưng cho nhân tố Tình người
Trí tượng trưng cho nhân tố Trí tuệ
Dũng tượng trưng cho nhân tố Ý chí
Tâm lý học cận đại cũng xem tâm tính của con người gồm ba nhân tố là “Tình cảm, Lý trí và Ý chí”. Ở đây Tình cảm có thể hiểu là Tình người, Lý trí có thể hiểu là Trí tuệ.
Tình người, Ý chí và Trí tuệ là ba nhân tố bao trùm đời sống tinh thần, nhân cách của mỗi con người. Chi tiết hóa các nhân tố này, ta thấy:
Mối quan hệ tình cảm giữa người với người, người với thiên nhiên, với sự vật hiện tượng như sự giao tiếp, hợp tác với nhau, sự hiếu thuận, lòng nhân ái, yêu đời, sự hy sinh, nguyện vọng, tình đoàn kết, tương trợ, v.v… thuộc về nhân tố Tình người.
Sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, vượt lên chính mình như nghị lực, niềm tin, liêm khiết, uy tín, nhẫn nhục, vượt khó, dũng cảm, lập trường, không cố chấp, tu dưỡng, tự giác, dám nghĩ dám làm, trách nhiệm, chấp nhận thử thách, nhìn nhận sai lầm, v.v… thuộc về nhân tố Ý chí.
Sự động não để tư duy, xem xét đánh giá, nhìn xa trông rộng như tuệ giác, sự hiểu biết, kiến thức, năng lực, ý tưởng, năng động, sáng tạo, khả năng tự học, nghiên cứu, vận dụng sự hiểu biết để giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra, v.v… thuộc về nhân tố Trí tuệ.
Bác Hồ đã từng nói muốn có đạo đức Cách mạng phải có 05 điều sau: “Nhân, Trí, Tín, Dũng, Liêm”[2]. Có thể hiểu Tín, Dũng, Liêm thuộc nhân tố Ý chí.
Qua những điều cơ bản trên, có thể đề xuất một giả thuyết về ẩn ý trong họ và tên Người - Hồ Chí Minh.
Minh tượng trưng cho Trí tuệ, Chí tượng trưng cho Ý chí, vậy Hồ có tượng trưng cho Tình người không?
Cũng có thể được nếu ta hình dung một mặt hồ phẳng lặng, bao dung, tượng trưng cho lòng nhân ái, cho Tình người.
Phải chăng Người muốn hàm ý nhấn mạnh một chân lý bình thường nhưng vô cùng cần thiết cho chúng ta hiện nay và mai sau, đó là giá trị của con người được đúc kết qua ba nhân tố “Tình người, Ý chí, Trí tuệ”.
Hai mục đích lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là giải phóng dân tộc và giải phóng con người.
Người “ra đi” khi cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đang vào giai đoạn cuối, nghĩa là mục đích giải phóng cho Dân tộc Việt Nam sắp thành hiện thực.
Với mục đích thứ hai, phải chăng Người muốn hàm ý để lại con đường hé mở về giáo dục cho thế hệ sau bằng ẩn ý từ chính họ tên mình: HỒ CHÍ MINH?
Chân lý cũng như viên ngọc quý, thường không lộ liễu khoe mình trước thiên hạ mà ẩn nấp trong sỏi đá, đất cát, con người phải bỏ công tìm kiếm, mài dũa thì mới thật sự đem lại giá trị …
Khoảng 20 năm trước, Đảng phát động phong trào học tập và làm theo Tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ 10 năm nay, Đảng tiếp tục phát động phong trào học tập và làm theo tầm gương Đạo đức Hồ Chí Minh.
Hiểu rộng ra thì Tư tưởng chính là Trí tuệ; Đạo đức hay phẩm chất chính là Tình người và Ý chí. Công dân tài đức chính là người có trí tuệ sáng suốt, tình người đậm đà, ý chí mạnh mẽ.
Bác Hồ là tấm gương rất sáng về Tài và Đức. Một nhà văn nước ngoài từng gọi Bác là bậc “đại trí, đại nhân, đại dũng”.
Bác Hồ đã hết lòng vì nước vì dân, suốt cuộc đời không nhận một tấm huy chương nào.
Về phần mộ của mình sau khi chết, trong Di chúc để lại, Người viết với đại ý rằng: “… đem tro (hài cốt của Người sau khi thiêu) chia làm ba phần để rãi trên ba ngọn đồi ở miền Nam, miền Trung và miền Bắc… ai đến thăm thì có thể trồng một cây trên đồi để tạo bóng mát …”.
Năm 1969, dưới sự chỉ đạo của Người, các nhà xuất bản đã phát hiện 6000 gương người tốt việc tốt, in thành 6 tập sách và phát hành nhằm mục đích giúp mọi người giáo dục lẫn nhau, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”[1].
Nhắc lại một vài tình tiết trên để nhấn mạnh rằng Bác rất bình dị và bản thân Bác muốn mọi người hãy xem Bác là người bình thường, không nên “Thần thánh hóa” để tôn thờ Bác một cách máy móc và hãy học hỏi những tính tốt, việc tốt của những người xung quanh trong cuộc sống đời thường vốn nhiều sắc thái, đa dạng…
Mục tiêu giáo dục trong dự thảo chương trình giáo dục tổng thể đang được bàn thảo.
Tình người – Ý chí – Trí tuệ được phân tích như trên cũng có thể được xem xét là mục tiêu giáo dục toàn diện về phẩm chất và năng lực cho học sinh…
Tài liệu tham khảo:
1. Võ Nguyên Giáp, Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường Cách mạng Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2003.
2. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nhà xuất bản Sự thật, 1984.
Tiến sĩ Nguyễn Viết Thịnh

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2019

Tư tưởng Hồ Chí Minh - Ngày 1

Chương mở đầu: Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa học tập tưởng Hồ Chí Minh.
I) Đối tượng và nhiệm vụ học tập tư tưởng Hồ Chí Minh.
1) Khái niệm và hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.
a) Khái niệm: 
- Là 1 hệ thống những quan điểm, luận điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam từ Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (Cách mạng giải phóng giải tộc) đến cách mạng xã hội chủ nghĩa.
- Là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mac-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam đồng thời nó còn là sự kết tinh tinh hoa, văn hóa của dân tộc và trí tuệ của thời đại nhằm giải phóng dân tộc tiến tới giải phóng giai cấp, giải phóng con người thông qua $2$ mục tiêu là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội hay nói cách khác, nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Câu hỏi: Nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là gì ?
Trả lời: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
b) Hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh (học tài liệu thầy gửi).
2) Đối tượng và nhiệm vụ học tập tư tưởng Hồ Chí Minh
a) Đối tượng môn học tư tưởng Hồ Chí Minh
- Là toàn bộ hệ thống những quan điểm, luận điểm của Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam nhằm giải phóng dân tộc tiến đến giải phóng giai cấp, giải phóng con người đồng thời đối tượng của nó còn là sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh qua các giai đoạn cách mạng để đề ra đường lối, chiến lược, sách lược đúng đắn, đảm bảo cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi.
b) Nhiệm vụ học tập tư tưởng Hồ Chí Minh (học tài liệu thầy gửi).
II) Phương pháp nghiên cứu và học tập tư tưởng Hồ Chí Minh.
1) Cơ sở phương pháp luận:
a) Cơ sở phương pháp luận chung:
- Là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
b) Những quan điểm có tính chất phương pháp luận của Hồ Chí Minh, bao gồm:
- Quan điểm thống nhất giữa tính Đảng và tính Khoa học.
- Quan điểm thực tiễn và nguyên tắc gắn liền với thực tiễn.
- Quan điểm thống nhất biện chứng giữa lập trường giai cấp( lợi ích giai cấp) và lập trường dân tộc (lợi ích dân tộc).
- Quan điểm toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm cụ thể.
- Quan điểm kế thừa, phát triển, sáng tạo, đổi mới.
- Quan điểm: "Dĩ bất biến, ứng vạn biến".

Pythagore và thuyết luân hồi

Pythagore và thuyết luân hồi NSGN - Quan niệm tái sinh, luân hồi (saṃsāra) của sinh mạng không phải chỉ riêng có trong tư tưởng Phệ...